Đời thường của bậc đại khoa

Vừa thấy cuốn “Giá Viên toàn tập” in trọn bộ và bày bán trong hội sách, liền nhớ 10 năm trước đã được những người cháu trực hệ họ Phạm Phú tặng sách dưới dạng in riêng, và nhất là được “nhìn” bậc đại khoa Phạm Phú Thứ dưới góc độ đời thường…

Hậu duệ cụ Phạm Phú Thứ viếng lăng mộ cụ cố

1. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng từng nhận định rằng, cụ Phạm Phú Thứ (1821-1882) xuất hiện như một hiện tượng “độc đặc” (infiriment originale) của lịch sử văn hóa Việt Nam. Tấm bia khắc 1.500 chữ dựng nơi lăng mộ cụ Phạm ở Gò Nổi đã phác họa phần nào về tiểu sử, hành trạng của vị đại khoa đầu xứ, đỗ giải nguyên, tiến sĩ, từng kinh qua các chức Tả tham tri bộ Lại, Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Binh, Tổng đốc Hải An kiêm Tổng lý thương chánh… Hậu thế nhắc nhiều đến giai đoạn cụ Phạm sung chức phó sứ (năm 1863), cùng chánh sứ Phan Thanh Giản và bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp, Tây Ban Nha chuộc lại 3 tỉnh Nam Kỳ.

Hiện tượng “độc đặc” ấy từng là người dũng cảm dâng sớ can gián vị vua trẻ Tự Đức ham chơi bỏ bê triều chính năm 1850 (năm Tự Đức thứ 3) rồi bị đày đi làm chân cắt cỏ ngựa ở trạm Thừa Nông phía Nam Thừa Thiên vì phạm thượng.  Có tư liệu nói cụ Phạm bị phạt làm “thừa nông dịch” (lính trạm chuyên chạy về việc canh nông) ở trạm Thừa Nông. Nhưng con người cương trực ấy trong phần lớn cuộc đời mình đã thực sự mềm mỏng, thương dân, hiếu đễ… Những mẩu chuyện như thế, chỉ tìm thấy trong vài niên biểu ghi nhận đơn sơ, và nơi các trang sách mang tính tự sự được con cháu sau này xuất bản.

Chúng tôi tìm thấy ở “Giá Viên toàn tập” hình ảnh một người em dành nhiều tình thương và lòng hiếu kính với chị Ba. Giá Viên (vườn mía) là biệt hiệu của cụ Phạm Phú Thứ, được biết đến rộng rãi cùng với hiệu Trúc Đường (nhà tre). Đúng 10 năm trước, chúng tôi may mắn được hai bác Phạm Phú Vinh, Phạm Phú Trắc tặng cuốn “Giá Viên toàn tập”, với phần tấu chương, bi minh, hành thuật của cụ Phạm – một tư liệu nội bộ họ tộc do Phạm Phú Viết giới thiệu ấn hành năm 2008. Bác Vinh, bác Trắc là cháu trực hệ đời thứ 9 và thứ 10 của cụ Phạm Phú Thứ, vừa từ TP.Hồ Chí Minh về quê xây Trúc Đường hoa viên. Người biên soạn cuốn sách có lý do để giới thiệu rằng, tác phẩm có những câu chuyện kể riêng tư trong gia tộc Phạm Phú, nhưng “riêng tư mà không còn là của riêng, vì mỗi chuyện là một tấm gương, ai muốn thì cũng có thể soi vào đó”.

Câu chuyện chị Ba là một ví dụ.

Đây là bà chính thất của Viên ngoại lang Bộ Lễ, người đã lo nuôi dưỡng đàn em thay cha. Trong ký ức của cụ Phạm, khi đàn em trưởng thành cả, “bấy giờ chị mới xin về, kinh doanh một thời gian ở Đông Châu. Xin quẻ bói, sống ở đó, sinh hai cháu trai (…). Anh Kinh Lịch, ngay ngày đầu mới đỗ tú tài, đã vội về quê. Vừa kịp đến nơi, chị đã bay đi như một gợn bông”. Đúng là câu chữ của bậc đại khoa nặng tình trọn nghĩa, biết nhìn thấy đâu đó có một gợn bông bay đi…

2. Nhưng cụ Phạm Phú Thứ không chỉ vẹn nghĩa với người thân. Ở góc độ cộng đồng, cụ là vị quan xứng danh được hậu thế ngưỡng vọng.

Chúng tôi đã có lần theo chân bác Phạm Phú Vinh (cháu trực hệ đời thứ 9) đi tìm lại nơi cụ Phạm Phú Thứ từng xây cầu “Hội Nguyên”. Chuyện rằng, ở quê cụ Phạm Phú Thứ có bàu nước rộng, mùa mưa lũ, người dân và đám học trò nhỏ đi trên con đường ngang qua bàu nước thường gặp nạn, chết đuối. Thuở hàn vi, cụ Phạm tâm niệm nếu đỗ đạt sẽ xây tặng dân làng một chiếc cầu… Ngoài 22 tuổi, cụ Phạm đỗ cao, nhớ lời nguyện cũ liền về quê xây cầu, đặt tên “Hội nguyên kiều”. Có thể đó là quãng sau năm 1844, thời điểm cụ vinh qui và được bổ làm quan tại triều với chức hành tẩu ở nội các.

Sau hơn một thế kỷ rưỡi, cầu Hội Nguyên không còn, nhưng lạch nước nhỏ chảy xuống bàu nước rộng vẫn để lại dấu vết, có cả đế cũ bằng đá cẩm thạch từng gắn tấm bia. Cây cầu nhỏ giờ được đúc xi măng dài chừng 6 mét. Riêng tấm bia cũ, sau khi bị gãy, đã được con cháu mang về dựng bên tả khu lăng mộ cụ Phạm vào thời điểm trước cả khi di tích này được trùng tu.

Tấm bia cũ “Hội nguyện kiều”, một phần trong công trình do Phạm Phú Thứ khởi sự để giúp dân

Và thật thú vị khi trong đời hoạn lộ của cụ Phạm Phú Thứ, cứ sau những lần bị biếm chức là lại thấy cụ làm việc nghĩa giúp dân. Sử chép, bốn năm sau lần can gián vua và bị giáng chức vào trạm Thừa Nông và hai năm sau khi được khôi phục hàm Biên tu (hàm lúc sơ bổ), năm 1854 cụ vào làm Tri phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) và vận động dân chúng lập được hơn 50 kho nghĩa thương để phòng khi chẩn tế cho dân. Năm 1874, chỉ một năm sau khi bị giáng làm Thị lang, cụ được vua đổi ra Bắc làm Tổng đốc Hải An kiêm Tổng lý thương chánh, gặp lúc vỡ đê huyện Văn Giang (nay thuộc Hưng Yên), nước lũ tràn cả hai phủ, dân tình đói khổ… cụ liền xin trích năm vạn phương gạo để phát chẩn. Sau lần xin về quê dưỡng bệnh và cải táng mộ cha (năm 1859), khi trở lại triều, cụ cũng không quên dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa ở Quảng Nam…

Từ ngót hai thế kỷ trước, Phạm Phú Thứ từng có tầm nhìn khoáng đạt khi liệt kê những tiếng Thanh, Anh, Phú, Xiêm, Man trong bản điều trần “Phiên dịch rõ tiếng các nước để dò xét lân cận” với mục đích nhắc nhở cần phải chú trọng ngoại ngữ. Bậc đại khoa ấy dù được vua Tự Đức đổi sang tên Thứ với nghĩa “đông đúc”, nhưng tên Thứ ban đầu có nghĩa “rộng lượng”. Có tấm lòng bao la như thế, mới có được những hành động vi tế như thế.

H.X.H