Cụ Lê Ý – Một đời với những dòng thơ…

Những cơn mưa phùn cuối đông dai dẳng. Từng luồng gió nhẹ lùa qua. Cái lạnh như thấm vào da vào thịt. Ruộng đồng đất đai nhão nhoẹt. Người dân làng Già Ban cứ phải co ro trong nhà xuýt xoa vì mưa và rét. Những vị cao niên rủ nhau túm tụm quanh từng đống lửa sưởi ấm. Rồi họ hàn huyên bao chuyện trên đời. Những chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện về những người cha, người ông tham gia đánh giặc giữ nước, giữ làng, chuyện về những năm tháng chiến tranh ác liệt, gian khổ. Rồi chuyện về Đức Thầy Hán Đỗ Huyền Quân cưỡi hổ. Chuyện về cụ Lê Ý làm thơ trong những ngày kháng Pháp…

Không hiểu sao cái mảnh đất Hiệp Đức gần như ở đầu non hóc núi này lại có quá nhiều những điều để nhớ, để kể. Mà câu chuyện nào cũng “ràng ràng ra đó” những chứng cứ, những sự tích còn y nguyên của những con người danh tiếng một thời. Đó là chuyện về Đức Thầy Hán Đỗ Huyền Quân là một bậc pháp sư tài ba, lại là một vị quan to ở triều đình Huế. Trong một lần bất bình ông đã dùng phép thuật để chém đầu một vị quan có tính khí kiêu căng, ngạo mạn, chuyên nịnh trên, đè dưới, ức hiếp dân lành. Rồi bị nhà vua xử tội, ông đã từ bỏ cung đình, hóa thân thoát nạn vào đến tận một khu rừng hoang cạnh ruộng làng Già Ban ở ẩn và để lại bao câu chuyện huyền bí cho hậu thế. Ngôi mộ của ông và ngôi mộ của người học trò cùng theo ông được dân làng tu sửa, cung kính hằng năm.

Thế còn cụ Lê Ý làm thơ trong những ngày cùng nhân dân trong làng tham gia kháng Pháp cũng lưu lại cho hậu thế những vần thơ rất đáng trân trọng. Ông tên thật là Lê Văn Hòn, sinh vào khoảng năm 1871 và mất năm 1954, quê gốc làng Già Ban, nay là thôn 3, xã Quế Bình, huyện Hiệp Đức. Sinh ra trong một gia đình trung nông khá, nên ông được cha mẹ cho ăn học tử tế. Ông không thích làm quan, chỉ muốn làm người dân bình thường như bao người khác. Nhưng là người có văn hay chữ tốt nên ông thường được mời ra làng, ăn chay nằm đất cả tuần lễ để viết văn và đọc văn tế. Người dân nơi đây và các vùng lận cận bảo rằng, ông đã làm rất nhiều bài thơ để lại cho đời. Nhưng trong thời buổi ấy, những bài thơ do ông sáng tác chỉ được truyền miệng nên phần lớn đã bị thất truyền theo thời gian. Những bài thơ còn lưu lại trong nhân dân không nhiều. Người nào trong làng đi hát hò khoan đối đáp bị thua cuộc lại tìm đến ông, để xin ông cho những bài đối đáp sắc sảo, giàu tính sáng tạo cho đến khi thắng cuộc mới thôi.

Với bổn phận của một người hậu thế, đau đáu một nỗi niềm và ngưỡng mộ cụ Lê Ý, tôi tìm đến ông Lê Đình Dương, nay đã ngoài 90 tuổi – người con út của cụ Lê Ý, hiện đang sống tại thôn 4, xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức. Tuy tuổi cao sức yếu, nhưng ông Dương vẫn còn minh mẫn, ông đã nhớ và đọc một trong số rất ít những bài thơ của cụ Lê Ý còn hằn sâu trong ký ức của ông.

Đọc những vần thơ của cụ Lê Ý đó là những nỗi đau cho cảnh nước mất nhà tan đã thường trực trong tâm khảm của một người yêu nước, thương nòi, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về thời cuộc. Ông kêu gọi người dân trong vùng hãy gác lại chuyện riêng tư, ủng hộ Việt Minh do Hồ Chí Minh sáng lập để kháng Pháp:

Pháp Nhật trận đồ khai khẩu tiếu

Giống Hồng Bàng hai mươi lăm triệu dân ta

Thiếp hỏi chàng, chàng phải nói ra

Tám mươi năm trường trải nước ta đổ huyền

Vì vua Tự Đức thị quyền

Để cho Pháp qua bảo hộ di phiền cho đến nay

Duy Tân,Thành Thái bị đày

Nhìn xem sử mới chua cay từ hồi

Nói ra đây chừ tội lắm bạn ơi

Bao nhiêu nước mắt mồ hôi của mình

Chúng đã đem về đóng tại lập binh

Nhà binh trường học ở xứ mình gớm ghê

Tội tình thay cho kẻ đói đi làm thuê

Xâu cao thuế nặng nhiều bề đắng cay

Không biết tội điều chi mà chúng bị đọa đày

Chánh lệnh độc ác cứ càng ngày ban ra

Việt Nam những nước Nam ta

Tây đang bảo hộ mà Nhựt sang cướp giành

Không biết nước Nam mình can chi mà họ lại đua tranh

Cuộc đời như thế sao chúng ta đành làm ngơ

Xuất dương các ổng có gởi thơ

Hô hào dân chúng dựng cờ Việt Minh

Có Anh, Nga, Mỹ giúp mình

Đánh cho Pháp với Nhật tan tành mới thôi

Than hồ than hai chữ vọng thời

Gặp cơn nước biến khoanh tay ngồi sao yên

Nào là nam nữ thanh niên

Lật đổ đế quốc cướp chính quyền về đây

Miễn cho các bạn ngày này

Thuế xâu không ai bóp cổ đè đầu dân ta

Ngày nay không luận chi đàn bà

Ai có lòng giúp nước thì đứng ra hô hào

Ai làm theo chủ nghĩa tối cao

Bạn ơi gắng sức ai nào mà lo

Việt Nam dân chủ hứa tự do tám điều

Bạn ơi tình bạn tình yêu

Ái ân sắp để mai chiều sẽ hay

Gặp cơn nước biến phận gay

Hãy ra giúp nước một tay với chồng

Hỏi ai làm theo thế giới đại đồng

Đây anh xin em phất ngọn cờ hồng ra đi! 

          Trong một bài khác ông viết:

Cơ hội này cha xa con vì bom súng đạn

Vợ lạc chồng vì nạn tản cư

Thấy đồng bào không đau chi mà nhan sắc kém hư

Phần thì lo nền kinh tế thất bại hồi cư không biết ăn gì

Phần thì lo con thơ vợ dại đôi chút hài nhi

Trâu với bò gà vịt bán hết không biết lấy chi ăn cho qua ngày
Phải chi hồi bình thường thiếu thốn thì đi tạm đi vay

Nay chừ tới nói thì họ khoanh tay nói không có tiền

Nghĩ mà lẽ ấy cũng tất nhiên

Ông Trạng Trình xưa ổng sấm câu sấm tựa như tiên trên trời

Ổng nói đồng bào đây rồi đi hết khắp nơi

Vợ thì lạc chồng bịn rịn cha thì gánh con đi chật đàng

Nghĩ như tài chi Thái Phiên Hội An

Hòa Vang tản cư biết mấy ngàn người ta

Biết bao giờ cho các nước thế giới dân chủ cộng hòa

Việt Nam độc lập mới ra thái bình

Trên thì có Chủ tịch Hồ Chí Minh

Dưới có chư văn chiến sĩ các nhà binh mới được thạnh cường

Họa may cho quân thù tận kế hết lương

Làm như con ngựa ta thả cương phải ngừng

Việt Minh họ vây từ dưới biển đến trên rừng

Nhân dân tự vệ chiến đấu canh chừng Việt gian

Đồng bào ai có đi đàng

Thân hành đảm phụ phải bỏ thường trong thân

Thời kỳ nghiêm trọng nhựt nhựt tân

Thấy sự trường kỳ gian khổ xin các anh em mình đừng làm Việt gian!
          Ở một bài thơ khác nữa, ông lại thể hiện sự căm phẫn của mình trước nạn quan quyền, thối nát, một chính thể chỉ biết sống trên nỗi đau khổ của dân lành:

Nhĩ văn nhất định mục kiến đinh ninh

Chánh Huệ lâm cư tại Phú Bình

Dẫn thị nữ nhứt nhơn ẩn cư tại Mỹ Lưu thôn

Trực thị đề chi quán

Nhựt nhựt thường lai vãng tá thử bần nhơn

Phóng hỏa thiêu sơn thủ dĩ số ngân

Quân phân vi nhị

Dân cư tha lý kiến cói dị trình tường

Lân hữu Lý hương bổn vô kiểm soát

Chiếu chi nhứt hoạt phóng hỏa Tam kỳ

Hà vi vô tá thử

Mỗi thường sanh sự

Trần Sử cho ngưu khai

Tróc Phạm Thìn, Phạm Hân chi quản

Dịch mục có Trần Ngưu chỉ dẫn

Phó Lý trưởng đồng hành

Bán dạ tam canh hại dân thậm ức

Huyện đường bất thức Tổng lý cũng vô tri

Kiến sự dị kỳ nay ta báo phải làm đăng

Hà nhơn hành đạo thủ thử dĩ trương

Đem nộp huyện đường cho dân thẩm cứu

Trì lưu hữu cựu trách cứ Lý hương

Thử nhật vô tường lai niên khất bẩm

Mỹ Lưu, Lê Cẩm, Hiệp Giữ với Trần Ta

Cứ Lý trưởng trình qua, Huyện đường vọng bái

Tiền ngân mô giao lại Lê Cẩm với Trần Ta

Ăn làm chi mà ăn của ông già

Thầy Chánh vệ sao không biết nghĩ

Trong hương ấp cũng nhiều người sử mỵ

Ngoài Lý Lân hiếm kẻ hiện yêu

Thấy Trần Nhạc cũng có ít nhiều

Lập mưu kế mà kiếm tiền kiếm bạc

Chánh tổng như thầy đại ác

Hại dân là đứa tiểu tâm

Không phải là vật đạo thú cầm

Ăn cũng ăn mà ăn cho biết nghĩ!…

Có thể nói, thơ của cụ Lê Ý còn rất nhiều trong trí nhớ của những người cao tuổi. Có bài chỉ còn lại vài câu, vài đoạn không trọn vẹn nên rất khó tập hợp như bài “Vè con voi”, “Cháy nhà phù thủy”… Những vần thơ của cụ được người dân trong vùng nhớ lại theo lối truyền miệng nên không tránh khỏi những sai sót. Song ở một vùng đất Già Ban xứ núi năm nào đã có một vị tiền nhân biết dùng những vần thơ của mình để nói hộ cho nỗi niềm của người dân mất nước, căm giận vạch mặt chỉ tên bọn tham quan ô lại, giãi bày lòng khát khao về nền độc lập cho dân tộc, tự do cho Tổ quốc… thật đáng trân trọng biết nhường nào.

P.L