Con lợn trong văn hóa Việt

Năm Đinh Hợi theo Âm lịch, năm mang tên con vật cuối cùng trong vòng tuần hoàn 12 con giáp, đó là con lợn (còn được gọi là heo). Lợn không chỉ là loài vật nuôi gần gũi với con người, được sử dụng làm thực phẩm hàng ngày, làm vật phẩm cúng tế thần linh mà còn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt.

1.Đối với người Việt, một dân tộc có nền văn minh lúa nước lâu đời thì con lợn có mối quan hệ gắn bó thân thiết. Từ xa xưa, những sản phẩm từ cây lúa, cây chuối, củ sắn, củ khoai,… không chỉ nuôi sống con người, mà còn được tận dụng dùng để chăn nuôi. Hầu như ở khắp các làng quê người Việt, nhà ai cũng thường nuôi đàn gà, vài con lợn để tận dụng thức ăn thừa và có thêm nguồn thực phẩm cho gia đình, hoặc đem bán lấy tiền phục vụ những nhu cầu khác.

Trong bữa ăn hàng ngày của người Việt, thịt lợn chiếm vị trí quan trọng. Ngày trước, khi đời sống còn khó khăn, nhu cầu chỉ cần ăn no thì thịt lợn thường chỉ được biết tới là kho, luộc, hầm. Nhưng ngày nay, mức sống được nâng lên, ăn ngon đã trở thành mục tiêu thì những món ăn được chế biến từ lợn cực kỳ đa dạng, phong phú như: nướng, tái, xào, nhúng dấm, làm chả, giò thủ, nem… Chính vì vậy, ẩm thực từ thịt lợn đã được người xưa đúc kết thành ca dao: “Con gà cục tác lá chanh / Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”.

Lợn độc (tranh dân gian Kim Hòa)

2. Con lợn không chỉ cung cấp thực phẩm hàng ngày mà còn có vai trò quan trọng trong những ngày lễ Tết. Lợn dùng tế lễ thường có chế độ chăm sóc riêng rất cẩn thận và được bà con trong làng không gọi một cách thông tục, mà dùng những từ ngữ biểu lộ sự trân trọng, tôn kính như: Ông Lợn, Ông Ỉ… Ở miền Nam Việt Nam, thịt lợn đỏ (thịt heo quay) được coi là điềm lành, may mắn cát tường nên lợn tế thường để cả con mà quay.

Ngày trước, trong những ngày Tết, giỗ chạp, cưới hỏi, ma chay, khao vọng, thịt lợn là món ăn ngon và phổ biến nhất. Để chào đón năm mới, việc chuẩn bị lương thực, thực phẩm diễn ra từ rất sớm. Ở nông thôn người ta thường để lại một con trong đàn lợn nuôi cả năm để ăn Tết. Nếu những nhà không đủ điều kiện sẽ rủ vài nhà cùng nuôi chung, hoặc góp tiền mua chung lợn rồi làm thịt chia nhau để mỗi nhà ai cũng có một cái Tết đầm ấm, hạnh phúc.

3. Trải qua quá trình gắn bó lâu dài, hình ảnh con lợn dần dần đi vào thơ ca, ca dao tục ngữ của người bình dân cũng như trong những tác phẩm văn học. Trong tác phẩm Lục súc tranh công (sáu con vật nuôi trong nhà tranh nhau công trạng) là một truyện Nôm khuyết danh nổi tiếng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, thì sáu con vật gồm trâu, chó, ngựa, dê, gà và lợn tranh nhau kể công trạng của mình đối với chủ. Mỗi con vật đều cho rằng mình là quan trọng nhất, con lợn (heo) trong truyện bị gà chê là chỉ biết ăn ngủ, hình dạng xấu xí không được ích lợi gì, ăn phí của: “Heo ăn rồi ngủ ngáy sì sì/ Giả ngây dại, biết gì việc chủ/ Ngắm diện mạo, dị hình, dị thú/ Xem dung nhan khác thế lạ đời/ Như nuôi chơi, chẳng phải giống chơi/ Chạy rau cám, như tiền nội án/ No đú mỡ, nhảy quanh, nhảy quất/ Đói xép hông, cắn máng, cắn chuồng/ Mỗi một ngày ba bữa ròng ròng/ Đã chẳng thấy bữa nào sai chạy/ Bán bối gì mà người yêu vậy?/ Mù quáng chi mà phải báo cô?“.

Lợn cũng lập tức bác bỏ những lời chê trách của gà và khẳng định vai trò quan trọng của mình, đặc biệt là lễ vật tế trời đất ở đàn Nam Giao: ” Vua ngự lễ Nam giao đại đột/ Phải có heo mới gọi tam sanh… Kìa những việc hôn nhân giá thú/ Không heo ra, tính đặng việc chi?/ Dầu cho mời năm bảy chuyến đi/ Cũng không thấy một người thấp thoáng/ Việc hòa giải, heo đầu công trạng/ Thấy mặt heo nguôi dạ oán thù/ Nhẫn đến khi ngu phụ, ngu phu/ Giận nhau đánh giập đầu, chảy máu/ Làng xã tới lao đao, láu đáu/ Nào thấy ai gỡ rối cho xong/ Khiêng heo ra để lại giữa dòng/ Mọi việc rối liền xong trơn trải/ Phải chăng, chăng phải/ Nghĩ lại mà coi/ Việc quan, hôn, tang, tế, vô hồi/ Thảy thảy cũng lấy heo làm trước”. Sau khi kể nỗi khổ cực của mình, lợn cũng thổ lộ tấm lòng tận trung với chủ: “Heo cũng biết đền ơn báo ngãi/ Heo cũng hay tiêu họa, trừ tai/ Toái thân phấn cốt chi nài/ Nát thịt tan xương bao quản?/ Lòng thờ chủ ngay đà tỏ rạng”

Qua những câu thơ trên, tác giả khuyết danh đã phác họa rõ nét chân dung, đức tính của lợn như dễ nuôi, có nhiều lợi ích kinh tế, cũng như thịt lợn được dùng trong những chuyện lớn chuyện nhỏ của đời người.

4. Trong tình yêu đôi lứa, người dân cũng mượn hình ảnh con lợn, một trong những lễ vật cưới xin không thể thiếu, làm một phương tiện nghệ thuật để tán tỉnh, làm quen các cô gái: “Cô kia đi chợ Hà Đông/ Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi/ Anh đi chưa biết mua gì/ Hay mua con lợn phòng khi cheo làng”. Hay dùng hình ảnh đó để tỏ tình một cách kín đáo và ý nhị qua câu chuyện nhờ vá áo: “…Đến khi lấy chồng anh giúp của cho/ Giúp cho một thúng xôi vò/ Một con lợn béo, một vò rượu tăm”. Khi tình yêu nam nữ bị ngăn cản, chia rẽ, cấm đoán, hình ảnh con lợn lại một lần nữa được mượn để chàng trai than thân trách phận: “Yêu nhau chả lấy được nhau/ Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già”. Rồi lại thể hiện ước mong: “Bao giờ sum họp một nhà/ Con lợn lại béo, cau già lại non”.

Dân gian đúc kết qua nhiều thế hệ nhận ra rằng hình tượng nghệ thuật chính là bắt nguồn từ xúc cảm hiện thực, cho dù hiện thực đó giản dị biết bao. Câu chuyện đối đáp về anh học trò Nguyễn Nghiêu Trư, vì bố làm nghề mổ lợn nên lấy tên Trư đặt cho con (Trư là lợn), bị bạn bè chế giễu, bắt phải đối: “Lợn cấn ăn cám tốn”. Không ngần ngại, Nguyễn Nghiêu Trư trả lời đầy kiêu hãnh: “Chó khôn chớ cắn càn”. Lấy hình ảnh con lợn đưa vào câu đối để giễu cợt, nhưng qua đó cũng khuyên người đời không nên khinh thường người khác kẻo rước họa vào thân.

5. Hình ảnh con lợn còn được các nghệ nhân dân gian thể hiện độc đáo qua nghệ thuật tạo hình dân tộc như tranh dân gian, điêu khắc… Trong những dòng tranh dân gian nổi tiếng như Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng, tranh lợn với ý nghĩa chúc tụng năm mới gặp nhiều may mắn, con cháu đông vui, phúc lộc. Nhưng mỗi dòng tranh thì hình ảnh lợn được các nghệ nhân dân gian thể hiện khác nhau. Lợn trong tranh Đông Hồ thường có hai kiểu: “Lợn ăn cây dáy” và “Lợn nái”. Hai kiểu tranh đều có cái nhìn mang tính trang trí cao, hình tượng được chắt lọc và điển hình hóa. Hình các con vật được viền bởi những nét khắc chắc khỏe mà mềm mại, không chỉ đẹp mà còn đúng về đặc điểm hình thể. Con lợn nào cũng có xoáy âm dương được trang trí trên mình để thể hiện sự sinh sôi, phát triển. Tranh Đông Hồ được làm từ vỏ điệp, sắc trắng có ánh lấp lánh, màu vàng từ hoa hòe hay hạt dành dành, màu đỏ vang từ gỗ cây vang, đỏ son từ đất son, xanh lá cây là gỉ đồng, xanh chàm từ lá chàm và đen là than rơm nếp. Bởi thế mà thi sĩ Hoàng Cầm ca ngợi: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

Heo mẹ, heo con (tranh Đông Hồ)

Con lợn trong tranh Kim Hoàng có hình tướng khác hơn, có vẻ tạo hình phóng túng hơn và ít chiều theo sự mô phỏng tự nhiên. Hình tượng con lợn được cách điệu nhiều hơn, với nét vẽ tay phóng khoáng; cái mũi với hai lỗ mũi đã biến mất, thay vào đó là một hình dáng như một họa tiết mây trong vốn cổ, các nét vẽ dọc thân để làm nhịp của hình thêm vui.

Tranh Hàng Trống lại mang một bản sắc riêng và thẩm mỹ của dân thị thành. Khuôn khổ của tranh Hàng Trống cũng lớn hơn nhiều so với các dòng tranh dân gian khác. Hàng Trống vẽ cảnh chợ quê nhất thiết phải có hình ảnh ông lái lợn với chiếc nón hình quả bứa hoặc chít khăn đầu rìu, có vài rọ lợn bày xung quanh.

Người nghệ nhân dân gian còn tạo nên một hình ảnh cực kỳ dễ thương là hình ảnh chú lợn bằng đất nung hay gọi là heo đất. Hình ảnh chú heo tươi cười rạng rỡ, trên lưng có khoét một rãnh nhỏ có lẽ là hình ảnh quen thuộc với tất cả mọi người. Nuôi heo đất là một hình thức tiết kiệm dễ dàng. Đặc biệt trong những ngày Tết thì trẻ con được lì xì bỏ heo để qua năm mới mua được những món mà mình thích. Hình ảnh con lợn được các nghệ nhân điêu khắc nâng lên một tầm nghệ thuật cao hơn khi được khắc lên Tuyên Đỉnh (một trong Cửu Đỉnh) của triều đình Huế vào thời Minh Mạng (1802 – 1945) thể hiện ước mơ cho dân phồn thịnh, giàu có.

6. Đối với người Việt, hình tượng con lợn gắn liền với mọi khía cạnh trong đời sống của con người, luôn tồn tại hai thuộc tính đối lập tốt – xấu, trọng – khinh. Một mặt, lợn đóng vai trong quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Là loại thực phẩm quan trọng nhất của con người, ngoài việc phục vụ bữa ăn hàng ngày thì còn là một lễ vật trong các ngày lễ, Tết. Chúng còn đi vào nghệ thuật dân gian để thể hiện ước mơ hạnh phúc, sung túc, con cái đuề huề của người Việt. Một mặt, nó cũng là loài vật tham ăn, bẩn thỉu… Nhưng trên tất cả, nó là loài vật nuôi đem lại lợi ích lớn lao cho con người, hình ảnh con lợn trong ẩm thực, quan niệm, tín ngưỡng thể hiện đặc sắc văn hóa Việt.

                                                                                          H.T.H

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
  2. Vô Danh Thị, Lục súc tranh công, (Ưu Thiên Bùi Kỷ hiệu đính), Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1956.
  3. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, 1960.
  4. Jean Chevalier, Alain Gheerbant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng – Trường Viết văn Nguyễn Du, 2002.
  5. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Thị Huế, Kho tàng thần thoại Việt Nam, Nxb Văn hóaThông tin, Hà Nội, 1995.
  6. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, Nxb Khoa học Xã hội, 1990.
  7. Minh Hạnh, Phan Hồng Sơn, Truyện ngụ ngôn Việt Nam, Nxb Văn học, 1986.