Cao Kim – Người luôn thao thức

“…Tuy bị thương tật nặng, tôi không muốn trở thành một kẻ sống què quặt về tâm hồn. Tôi muốn sống cuộc đời như bao người bình thường khác. Vậy thì tôi phải lao động. Tôi “liều lĩnh” thử tập viết – viết về những chút tâm sự riêng tản mạn của mình và mạnh dạn gửi về “Đất Quảng” thân yêu, nơi chôn nhau, cắt rốn của tôi. Những bước tập đi chập chững ban đầu trên đôi nạng của người đã lên tuổi ba mươi chắc còn lắm ngỡ ngàng. Mong các anh chị phụ trách và biên tập của Hội có sự hướng dẫn, cổ vũ để tôi được sống có ích hơn…”. Đó là những dòng tâm sự của thương binh nặng – Cao Xuân Kim, bút danh Cao Kim, khi anh đang điều trị tại Trại thương nặng Quy Nhơn.

  1. Anh quê xã Bình Đào, huyện Thăng Bình, xung phong vào bộ đội, rồi mong giải phóng hoàn toàn miền Nam sẽ được tiếp tục đi học, ai ngờ chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Anh được điều về Trường Quân chính Quân khu V tập huấn ngắn hạn và sang nước bạn. Trong một trận đánh, anh bị thương rất nặng. Đồng đội trông anh giống một đống…thịt nát, bê bết máu, hai chân dập còn dính tý thịt vào người lủng lẳng… Một dây thần kinh, không, có lẽ một chùm dây thần kinh rút lên, mõm cụt bên phải co giật, tê buốt. Cảm thấy mình như rơi xuống vực sâu, rất sâu, hai mắt tối sầm lại, toàn thân dường như mất trọng lượng… Những câu hỏi của ê kíp y bác sĩ trực hôm đó luôn thường trực bên tai anh:

– Anagin chưa? Rồi! Seduxen chưa? Không ăn thua. Dexa chưa? Dạ rồi.  Donargan?

Cơn đau giống như khi lãnh trọn một quả AT địch phóng tới chỗ anh tác xạ, chỉ huy đại đội trườn lên chiếm cao điểm 200. Nóng rát! Co rút toàn thân.

“Mỗi lần thay băng như là một…cực hình. Những mảng gạt, mảng băng, mảng bông bám vào da thịt. Cái rát bỏng của cồn, của oxy già, của nước muối…Bặm môi cắn răng mà chịu… Vết thương đã bắt đầu lên da non, những vết sẹo đang liền lại, nhưng những mảng da đã bị mất đi không tái sinh, những chỗ ấy màu ửng hồng…chạm vào có thể …rỉ máu”.

Khi đó anh luôn bất lực trước mọi ý muốn bởi những cơn co rút lan tỏa khắp cơ thể. Cảm giác như ai đó dùng kìm rút từng thớ thịt ở đầu mõm cụt. Cả mõm cụt tê dại, mọi dây thần kinh dẫn xuống chân, tới đoạn bị đứt căng lên hết cỡ, hai mõm cụt… cứng lại, rồi bỗng… dãn ra. Trong thời gian đó, anh đã được tiếp cận với cuốn ‘‘Ruồi Trâu’’ của nữ nhà văn Anh – Ethel Lilian Voynich, viết về phong trào cách mạng Ý. Đọc sách, anh quên luôn cả thời gian, trước mắt anh chỉ có Ruồi Trâu hiển hiện. Dáng người cao lớn, tập chống nạng và chân đi khập khiễng, đẹp trai, can trường, dù bị kẻ thù truy bức cho thân tàn, ma dại… Anh tưởng tượng Ruồi Trâu đang nhìn anh, ánh mắt tin cậy và động viên.

Trong trại thương binh năm đó, anh chứng kiến nhiều người bị thương nặng hơn mình, mỗi người mỗi hoàn cảnh, người thì cụt cả hai tay, người thì cả hai chân, người thì không còn đôi mắt, có người bị tâm thần, bị liệt nửa người do trúng mảnh đạn vào đầu… anh đã quen sống, quen uốn nắn cái còn lại của thân thể đã yếu theo khả năng điều chỉnh các thao tác để bình thường hóa cuộc sống trong hoàn cảnh này. Cảnh một người cụt hai tay cõng người cụt hai chân di chuyển như vậy, mới nhận ra sự…bù trừ.  Anh thiếu hai tay, tôi thiếu hai chân. Thì chúng ta gộp lại thành người.

  1. Trước khi bị thương, anh có người yêu là một cô gái đang học sư phạm. Khi đã mang thương tật trên người, anh luôn tránh né và tìm mọi cách để từ chối tình yêu. Anh nghĩ: “yêu người nào đó, là mong cho người đó hạnh phúc, liệu cô ấy có hạnh phúc khi yêu mình, yêu một người không còn đầy đủ hình hài”. Lúc đó anh nghĩ, đến với thương binh nặng cũng cần sự dũng cảm. Đó là con đường phải vượt qua để trở về với gia đình, bạn bè và với chính mình. Trên hết, là phải có tâm hồn cao thượng. Và hai tâm hồn cao thượng đã đến với nhau. Cô giáo đó đã đến với anh bằng tất cả tình yêu, vượt lên mọi ngáng trở của gia đình, bạn bè và dư luận…

Để tạm quên đi nỗi đau trên cơ thể, anh làm thơ, viết văn và ôn tập bài vở để thi vào đại học. Anh thi đậu Đại học Bách Khoa, tiếp tục nuôi sống gia đình và trang trải cho bản thân bằng nghề viết báo.

Những năm 1980, khi hợp tác xã bộc lộ quá nhiều bất cập, anh có những dòng thơ trong tập thơ  “Thao thức”. “Thao thức không phải vì mất ngủ/ Mà ngoài đời còn lắm gian truân/ Bữa cơm tuy đã khá hơn/ Nhưng lòng vẫn đói…”. Anh đọc thơ ở diễn đàn, hội nghị cấp tỉnh, đến nỗi Bí thư Tỉnh ủy lúc bấy giờ cũng giật mình vì cái “bạo” của nhà thơ thương binh này. Không phải vì anh được “bảo hiểm bằng 95% thương tật, mà bằng sự hy sinh hết nửa người” để chỉ trích, phê phán, mà anh biết “Đêm nay, tôi không ngủ/ Hẳn trong phòng lãnh đạo/ Ngọn đèn còn chong/ Những mái đầu xanh/ Những mái đầu bạc” đang trăn trở để ra đời “khoán 100”…

  1. Người thương binh nặng này viết báo, viết văn, làm thơ, không những sống nhờ nghề bút, mà tự xây nhà cho mình mà không đợi đến nhà nước xây dựng nhà tình nghĩa. Hơn 20 năm qua, hơn 10 đầu sách được xuất bản như Thao thức, Những ngọn triều dâng, Người không gặp may, Mẹ và đồng đội, Ngôi sao phổ biến, Mạch ngầm; Thơ viết trên xe lăn, Đội chim chèo bẻo, Chiến đấu giữa đòn thù, Tuổi thơ tôi trong lửa đạn, Anh và em… Đề tài mà anh gắn bó suốt 20 năm qua, đó là những số phận của người lính trở về sau chiến tranh với nhiều vết thương trên cơ thể, cùng với vết thương tinh thần …

Nhà báo Lê Trung Việt nhận xét khi đọc tiểu thuyết “Ngôi sao phố biến của anh” (NXB QĐND 2001) “Viết về những cá nhân tiêu biểu, viên chức mẫn cán, những công bộc của dân thời mở cửa… đến nay, văn học nước nhà chưa có nhiều. Tiểu thuyết “Ngôi sao phổ biến” đã góp thêm tiếng nói biểu dương những con người có chức, có quyền mà không bị tiền tài, danh vọng làm hoen ố nhân tâm, lòng dạ.. đây là cố gắng rất lớn của tác giả, chấp nhận “chơi” với tiểu thuyết – thể loại không mấy thành công của đa số nhà văn Việt Nam”.

Nhiều người luôn đặt câu hỏi, một con người ngồi trên xe lăn, lấy tư liệu đâu mà viết, anh đi xe đạp với cây gậy, rồi đi xe ôm… để tìm kiếm tư liệu, gặp đồng đội, những cựu tù yêu nước để viết về họ. Họ tin tưởng anh, bởi anh hiểu được họ, anh viết về những điều họ không nói lên được. Đọc những câu chuyện trong“Chiến đấu giữa đòn thù”, hay trong các tập sách “Kiên trung bất khuất” của Hội Tù yêu nước tỉnh, hiển hiện trên những trang sách là nhân chứng lịch sử kiên trung, anh hùng, nếu không viết về họ, quá khứ sẽ dễ bị lãng quên…

Cao Kim – người lính năm nào đang sống cùng người vợ đảm đang, chung thủy dưới mái nhà nhỏ ở phường Tân An, thành phố Hội An. Có lẽ ngoài tình yêu, chị đến với anh còn vì tình thương, sự khâm phục, kính trọng, muốn bù đắp lại những mất mát, hy sinh của anh đối với tổ quốc. Các con của anh đã trưởng thành, và có địa vị xã hội, con trai anh hiện là giảng viên Trường Đại học Y Đà Nẵng, con gái vừa tốt nghiệp cử nhân tài chính marketting, chuẩn bị đi du học… bây giờ anh cũng không còn nhiều sức lực để đạp chiếc xe cà tàng rong ruổi khắp phố phường, những vết thương của chiến tranh hành hạ anh, nhưng anh bảo rằng, anh đang “giảm đau”, “hạ sốt” nhờ những trang viết. Và anh sẽ chiến đấu với nỗi đau đến cùng – Vì anh là người lính!

                                      Q.H