Tục đón Tết Nguyên Đán của cư dân xưa ở Cù Lao Chàm

Vào các ngày 25 – 26 tháng Chạp, cùng với những chuẩn bị khác như dọn dẹp trang trí khang trang bàn thờ gia tiên, thay cát cho các bát hương. Khi thay cát ở bát hương phải giữ lại tờ giấy điều viết chữ Hán để trong. Tờ giấy điều này được thầy cúng hoặc thầy chùa viết khi lập bát hương. Những chữ ấy có thể là Ngũ Tự Gia Đường, tên ông, bà đã mất. Nếu không giữ lại các tờ giấy ấy bát hương sẽ bị coi như vô chủ và việc thờ cúng sẽ vô nghĩa, mất linh. Công việc chuẩn bị cho trong nhà, ngoài sân còn phải gánh cát trắng đổ lót khắp sân và nền nhà. Những nhà nào đã lót gạch, đá hoặc sau này tráng xi măng thì thôi. Làm như vậy ngoài mục đích để mong mới mẻ trắng trẻo, ông bà về hưởng Tết khỏi quở, còn mục đích khác là để định rõ ranh giới đất đai chính của chủ nhà chống sự tranh chấp của Quỷ Ngạ, Dạ Xoa (một loại cao cấp hơn ma quỷ thường).

Khi thời khắc giao thừa đã điểm, mọi gia đình trong làng đều phải giữ yên lặng nhằm xem con gì “sanh trước” (tức có tiếng kêu) để đoán trong năm mới làm ăn ra sao, được mùa hay thất bát, có dịch bệnh không, có biến động thời thế hoặc có xảy ra chiến tranh không… Ví dụ chó sủa hoặc chuột rúc là giàu có, mèo kêu thì thất bát mất mùa, heo kêu là chắc chắn phải chạy loạn cũng đồng nghĩa với chiến tranh…

Việc cúng giao thừa chuẩn bị thật chu đáo từ đầu giờ Tý (23 giờ đêm), tất cả mọi việc phải sẵn sàng để tránh cả năm phải tất bật. Lễ vật phổ biến gồm một bát nước lạnh, 100 áo giấy (áo binh), giấy vàng, giấy bạc, gạo, muối, bánh ngọt, chuối, bông. Không cúng mặn vì người phối hưởng có thể ăn chay. Người thế đàn ông và đàn bà (trong gia đình có bao nhiêu đàn ông – đàn bà thì phải gấp đôi số người thế lên). Sáng mồng hai hoặc mồng ba cúng thổ địa (cúng đất) sẽ có lễ vật đặc biệt gồm  gà luộc nguyên con, nải chuối chín vàng, bình bông, 1 miếng thịt heo luộc (thịt tợ) có bỏ mấy hạt muối lên trên, kèm 5 chén cơm (5 vị ngũ hành). 100 áo giấy vàng bạc – bánh tét, bánh ngọt, hoa, quả các loại, mâm cơm, đồ xào để cúng ngũ hành và âm binh. Người cúng là cột trụ trong gia đình, khi cúng rất trang trọng, đàn bà con gái có nhiệm vụ giữ con nít không cho chạy lăng xăng sợ quở. Lễ thức thường 3 vái – 4 lạy, rót một tuần rượu, được coi là tuần đầu. Đọc văn (đối với người có học tự soạn hoặc mua ở thầy về. Người ít học thì cáo bằng miệng). Lạy 4 lạy nữa, rót một tuần rượu tiếp lại lạy tiếp 4 lạy, xong rót rượu được coi là tuần giữa. Tiếp theo, bái 3 bái, 12 lạy –  6 bái –  3 lần rượu. Sau rót nước, 3 bái nữa để kết thúc rồi đem áo giấy đốt ở ngoài đường.

Việc thắp hương khi cúng hoặc không cúng đều có điểm chung là phải thắp số lẻ:1,3,5. Số lẻ là số âm, số chẵn là số dương. Theo hồi cố của một số cụ già, việc thắp hương là cách “xưa bày nay bắt chước”, chỉ những gia đình có người cao tuổi mới biết ngọn ngành. Thắp 1 cây hương là bày tỏ tấm lòng thành. Thắp 3 cây hương là tượng trưng cho trời – đất – người (thiên – địa – nhân), tức tam tài. Thắp 5 cây là hướng về thần linh, 5 phương trời đất. Thắp 7 hoặc 9 cây hương là cầu xin ơn trên cho chính người đứng xin theo vía nam thất, nữ cửu. Dẫu thắp ở đâu cũng vậy. Xưa người giàu thường thắp 9 cây để trông mong được ban ơn cho cá nhân mình.

Sáng mồng một cữ người đạp đất không hạp (còn gọi là xông nhà). Trong đó, tối kị là người có tang chế hoặc nghèo khó bất hạnh. Chủ nhà thường tỏ ra hoang mang coi như là điềm khó cho cả năm khi chính những người ấy còn mở lời xin xỏ một thứ gì đó của nhà. Bởi thế nhiều nhà giàu thường cho con em túc trực sẵn ít tiền trước ngõ phát cho những người nghèo khó không có Tết, vừa để phòng họ bất chợt bước vào nhà, vừa là cách làm việc thiện, vì ngày Tết cũng chính là những ngày thần linh giám sát chứng tri lòng thành.

Tối 30 vào đầu giờ Tý (từ 23-24 giờ), nhà nhà đều cúng giao thừa, với mong muốn được các quan Hành Khiển và Phán Quan đi tuần biết sự thành tâm của từng gia đình mà ban phước lộc cho cả năm. Vì theo quan niệm truyền miệng, mỗi năm có một bộ (nhóm) quan Hành Khiển được Ngọc Hoàng phái xuống trông coi nhân gian. Sáng mồng một và đêm mồng một nhiều gia đình tổ chức cúng đầu năm. Các ngày Tết là mồng một, mồng hai, mồng ba đều cúng mặn đến 3 “chở” trong ngày để mời ông bà ăn Tết. Chở trước vừa xong đã chuẩn bị cho chở sau. Đàn bà các nhà trong dịp Tết thường không có thời gian đi chơi, chỉ quẩn quanh trong nhà để lo nấu nướng phục vụ cúng kính. Đàn ông ngoài việc sửa lễ, chủ bái còn làm vai trò tiếp khách nhận những lời chúc may mắn đầu năm. Khi lơi việc, lại đi trả lễ chúc Tết các nhà. Chiều mồng ba, lễ cúng tiễn ông bà, chủ nhà để một đôi quang gánh trước cửa, trong đặt bánh trái chưa cúng cho ông bà gánh đi. Những loại bánh đã cúng thì sắp lên một cái bàn kê trước cửa giúp ông bà lấy thêm nhằm cấp phát cho đám cô hồn đang chầu chực trước ngõ và cũng là để họ khỏi tranh cướp gánh bánh trái chính của ông bà. Nhiều đứa con nít thấy khuân bánh bỏ vào gánh sợ hết được ăn thường khóc thét lên gây nên cuộc vui cho người lớn. Các loại bánh thường dùng trong dịp Tết là bánh tét, bánh nổ, bánh in, bánh khô, bánh da, bánh ít, bánh tổ…đốt vàng bạc gọi là “đưa ông bà” xong, bánh trái trong gánh được dọn đi cũng đồng nghĩa với việc hết Tết. Ba ngày Tết cũng là những ngày nhà nọ thăm viếng nhà kia, hỏi han, trao đổi, hứa hẹn việc làm ăn trong năm mới. Ba ngày Tết cũng là ba ngày kiêng cữ mọi gây gổ. Ai phạm điều này dù bản tính hay lỡ say rượu đều bị quả báo suốt năm, nghèo hèn và bệnh hoạn.

Tục đón Tết Nguyên Đán của cư dân xưa ở Cù Lao Chàm vẫn được bảo lưu qua nhiều thế hệ, đến nay vẫn được coi là Tết thiêng liêng nhất trong năm, phần lớn giống trong đất liền Hội An, người người đều nghỉ việc và mong sum họp, nhưng vẫn có những màu sắc riêng. Nhất là trong việc kiêng kỵ, bởi theo các cụ cao tuổi thì Cù Lao Chàm là vùng đất linh, có rất nhiều điều đến nay chưa thể cắt nghĩa được và thuộc về văn hóa tâm linh. Mọi người sống trên vùng đảo này đều phải tôn trọng, tuân thủ nếu không sẽ gánh hậu quả nghiêm trọng. Vào thời xưa, phần lớn người dân ở đảo thuộc diện nghèo, trừ số ít làm kinh doanh, nhưng dù là ai, họ vẫn luôn ý thức được sự tồn tại của bản thân, gia đình mình đều có sợi dây vô hình ràng buộc với đảo, chi phối mọi thành công thất bại. Bảo vệ đảo cũng có nghĩa là xây đắp cho ngôi nhà chung. Việc tàn phá môi sinh chính là đụng đến các đấng thần linh, tự phá hủy cuộc sống hậu thế của mình.

Năm 2009, Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới cũng chính là cách đánh giá cao của nhân loại về vai trò bảo tồn sinh quyển Cù Lao Chàm của quân và dân vùng đảo như trên một nền tảng truyền thống văn hóa quý giá, đồng thời khẳng định giá trị tuyệt vời của văn hóa phi vật thể tồn lưu, tiếp biến từ quá khứ, hiện tại đến tương lai ở đây.

Từ năm 2009, du khách đến Cù Lao Chàm liên tục tăng. Phần lớn dân đảo tham gia vào các hoạt động du lịch dịch vụ, số lượng tỷ phú ngày càng nhiều. Riêng năm 2018, thu phí tham quan đến đảo đạt 26,7 tỷ đồng. Cuộc sống của người dân được cải thiện do mức thu nhập ngày càng nhiều nên Tết Nguyên Đán ở Cù Lao Chàm cũng có phần phong phú vật chất hơn. Điều đáng trân trọng là dù trong hoàn cảnh tiếp biến văn hóa, hòa nhập quốc tế nhưng người dân Cù Lao Chàm vẫn giữ được nề nếp Tết cổ truyền cùng các phong tục tập quán đẹp truyền lại từ các bậc tiền nhân.

N.Đ.M