Thời kỳ tiền sơ sử ở Quảng Nam qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học

Cách đây hơn 5.000 năm, những dấu tích đầu tiên của con người vào thời đại đá mới đã xuất hiện trên vùng đất Quảng Nam. Kết quả khai quật khảo cổ học tại di tích Bàu Dũ (xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành) đã cung cấp những bằng chứng vật chất về đời sống của cư dân thời kỳ này. Là dạng di tích cồn sò điệp còn bảo lưu nhiều dấu tích vật chất, Bàu Dũ là di tích có vị trí quan trọng trong lịch sử Quảng Nam nói riêng và lịch sử vùng Trung bộ nói chung, phản ánh tính chất đa dạng của thời đại đá mới ở Việt Nam.

Di tích Bàu Dũ – di tích thời đại đá mới ở Quảng Nam

Với tính chất là một di tích cư trú kết hợp mộ táng, trong tầng văn hóa di tích Bàu Dũ, các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều công cụ bằng đá, xương động vật, vỏ các loài nhuyễn thể, than tro… cùng di cốt người cổ. Những công cụ đá gồm công cụ chặt, nạo, chày nghiền, hòn kê… trên nhiều chất liệu mà chủ yếu là đá cuội, một số công cụ được con người sử dụng trong thời gian khá dài. Về loại hình và kỹ thuật chế tác, một số công cụ đá ở Bàu Dũ gần gũi với công cụ đá thuộc văn hóa Hòa Bình. Tại di tích Bàu Dũ, người chết được chôn theo hình thức bó gối, dựa vào các cụm điệp. Hình thức mai táng này khá gần gũi với cư dân văn hóa Quỳnh Văn, Đa Bút ở vùng Bắc Trung bộ.

Trong môi trường sống ở vùng cửa sông, ven biển, rừng tiếp giáp biển với hệ động vật, thực vật phong phú, cư dân ở Bàu Dũ đã tiến hành các hoạt động săn bắn, hái lượm, khai thác các điều kiện thuận lợi của thiên nhiên phục vụ nhu cầu cuộc sống. Số lượng lớn vỏ điệp được chất thành từng đống, trong lẫn vỏ sò, ốc, ngao, hàu, xương động vật,… phản ánh các hoạt động khai thác tự nhiên của con người thời bấy giờ.

Có thể nói, ngay từ thời kỳ đá mới, cư dân cổ sinh sống trên vùng đất Quảng Nam đã dựa vào điều kiện tự nhiên, bước đầu khai thác biển, xác lập phương thức hoạt động kinh tế để đảm bảo các nhu cầu của đời sống vật chất. Thời kỳ này, không riêng gì cư dân Bàu Dũ ở Quảng Nam mà ngay cả Việt Nam và Đông Nam Á, cuộc sống của con người phụ thuộc rất lớn vào các hệ sinh thái tự nhiên. Trong điều kiện của mình, cư dân ở Bàu Dũ một mặt vẫn kế thừa truyền thống Hòa Bình trước đó, tiếp xúc giao lưu với các nền văn hóa cùng thời đã ứng xử thích hợp và sáng tạo ở môi trường mới, góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế, văn hóa của mình so với truyền thống trước đó, làm cơ sở cho sự phát triển nội tại trong các bình tuyến sau này.

Một số hiện vật có nhập khẩu phát hiện trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam

Bước sang thời đại đồng thau, những cư dân cổ trên vùng đất Quảng Nam không chỉ chiếm lĩnh các vùng đất ở cửa sông ven biển mà cả các đảo ven bờ. Tuy số lượng các di tích khảo cổ học thời kỳ này được phát hiện chưa nhiều nhưng lại mang ý nghĩa quan trọng, góp phần minh chứng sự phát triển liên tục trong thời đại kim khí ở Quảng Nam.

Tại di tích Bãi Ông (thôn Bãi Ông, xã Tân Hiệp, thành phố Hội An), qua các đợt đào thám sát (năm 1999) và khai quật (năm 2000) cho thấy đây là địa điểm cư trú kết hợp mộ táng với dấu vết cư trú có phần nổi trội hơn. Tầng văn hóa của di tích ngoài những di vật như đồ gốm với các loại hình vò, nồi, bình chân thấp… đồ đá như bàn mài, rìu, bàn nghiền, chày… còn tìm thấy dấu vết bếp lửa, hạt cây cháy, xương động vật. Gốm di tích Bãi Ông có hoa văn trang trí cầu kỳ và đẹp mắt thể hiện trình độ thẩm mỹ của cư dân khá cao, phổ biến là các loại văn thừng, văn in mép vỏ sò, khắc vạch… Niên đại lớp dưới của di tích cách ngày nay hơn 3.100 năm.

Cùng với di tích Bãi Ông, di tích Bàu Trám (thôn Lý Trà, xã Tam Anh Bắc, huyện Núi Thành) là di tích có vị trí quan trọng trong thời kỳ tiền sơ sử ở Quảng Nam. Di tích Bàu Trám tồn tại cả khu cư trú và khu mộ táng, trong đó giai đoạn cư trú có niên đại sớm và giai đoạn mộ táng có niên đại muộn. Trong tầng văn hóa của di tích phát hiện nhiều công cụ đá, đồ gốm, đồ trang sức và cả đồ đồng. Diễn tiến một số loại hình đồ đá, đồ gốm còn phản ánh trật tự sớm muộn của di tích. Với không gian phân bố của di tích rộng, tầng văn hóa dày, di vật phong phú chứng tỏ quá trình định cư của cư dân tại Bàu Trám khá lâu dài và ổn định.

Sự hiện diện của di tích Bàu Trám và Bãi Ông đã mở ra giai đoạn đầu tiên của thời đại kim khí trên vùng đất Quảng Nam. Cho đến nay, mặc dù gạch nối từ giai đoạn Bàu Dũ sang giai đoạn Bàu Trám vẫn còn là khoảng trống trong lịch sử, nhưng từ Bàu Trám đến Sa Huỳnh – giai đoạn Đại Lãnh đã được chứng minh là quá trình phát triển liên tục. Trong quá trình đó, cả hai di tích Bàu Trám và Bãi Ông vừa mang những đặc trưng văn hóa riêng vừa có mối quan hệ lẫn nhau, góp phần vào quá trình hội tụ, kết tinh văn hóa ở giai đoạn muộn hơn – giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh.

Sang giai đoạn sơ kỳ thời đại sắt, cùng với các tỉnh miền Trung, Quảng Nam là địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh. Văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba nền văn hóa tiêu biểu giai đoạn này ở Việt Nam, cùng với văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc và văn hóa Đồng Nai ở miền Nam. Với mật độ phân bố các di tích đậm đặc và bộ di vật phong phú, Quảng Nam được xem là một trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh.

Các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam phân bố dọc theo các con sông lớn và chi lưu của nó, tập trung chủ yếu ở lưu vực sông Thu Bồn – Vu Gia. Không gian phân bố di tích rộng khắp từ đồng bằng đến miền núi, trên nhiều dạng địa hình như vùng đồi gò trước núi, cồn cát ven sông ven biển; tập trung nhiều ở các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Nam Giang, Núi Thành, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An. Đến nay, gần 50 di tích khảo cổ học thuộc nền văn hóa này gồm các loại hình di tích mộ táng, di tích cư trú, di tích cư trú kết hợp mộ táng đã được phát hiện và thám sát, khai quật.

Điểm đặc trưng của cư dân Sa Huỳnh là truyền thống sử dụng mộ chum/ vò để mai táng người chết. Bên cạnh táng thức chum/ vò, trong một số di tích văn hóa Sa Huỳnh còn tồn tại loại hình mộ huyệt đất. Các chum/ vò chủ yếu được chôn đơn táng nhưng cũng có trường hợp song táng (Lai Nghi, Bình Yên) hoặc chôn lồng theo kiểu trong quan ngoài quách (Gò Dừa, Hậu Xá II…). Chum mai táng chủ yếu là loại chum hình trụ, hình cầu, hình trứng với nắp chum hình nón cụt, lồng bàn úp… trong đó loại chum hình trụ được sử dụng ở giai đoạn muộn. Một số di tích còn tìm thấy di cốt người (Bình Yên) hay răng trẻ em (Hậu Xá II); những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt nhân chủng mà còn góp phần chứng minh cư dân Sa Huỳnh là cư dân bản địa, mộ chum Sa Huỳnh không phải là chôn tượng trưng. Đi liền với táng thức, táng tục này là những nghi lễ liên quan đến việc mai táng như việc kè đá dưới đáy chum (An Bang, Hậu Xá I, Phước Gia…), đốt lửa sưởi ấm mộ (An Bang, Hậu Xá II…), đổ cát trắng trong biên mộ… Đồ tùy táng chôn theo các mộ táng có sự sắp đặt cẩn thận và có sự phân hóa rõ rệt, thể hiện qua số lượng cũng như loại hình, chất liệu các đồ tùy táng trong từng mộ. Sự chuyển biến trong táng thức từ những mộ nồi nhỏ phân bố lẻ tẻ giai đoạn Tiền Sa Huỳnh (Bàu Trám, Bãi Ông) đến những quan tài gốm hình trứng, hình cầu và chum gốm lớn hình trụ phân bố tập trung cùng với tính phức trong việc thực hiện tang ma ở giai đoạn Sa Huỳnh phần nào phản ánh những chuyển biến trong cấu trúc xã hội từ đơn giản đến phức tạp, từ không phân tầng đến phức hợp phân tầng.

Sưu tập các di vật văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam đa dạng về chất liệu, phong phú về loại hình. Từ những đồ gốm sinh hoạt, đồ gốm tùy táng, các công cụ, vũ khí bằng sắt, bằng đồng, công cụ bằng đá đến bộ sưu tập đồ trang sức cho thấy đời sống vật chất, thẩm mỹ của cư dân Sa Huỳnh ở đây khá cao. Đồ gốm bên cạnh chất liệu gốm thô là chủ yếu thì ở một vài nơi cũng tìm thấy loại gốm chất liệu mịn (Hội An) và người Sa Huỳnh đã làm chủ được độ nung gốm (Gò Đình, Đồi Vàng). Ở giai đoạn kết thúc của văn hóa Sa Huỳnh, đồ gốm trong một vài di tích có “biểu hiện của xu hướng học hỏi và tiếp nhận những yếu tố văn hóa ngoại sinh – văn hóa Hán và xu hướng sử dụng, sản xuất gốm đơn chiếc”(1) như đồ gốm có chân ở Lai Nghi, nắp gốm hình nón có núm cầm ở Hậu Xá, Lai Nghi. Đồ sắt có số lượng phong phú và đa dạng, được cư dân Sa Huỳnh chế tạo và sử dụng tùy theo môi trường sống khác nhau, phản ánh sức sản xuất và mức độ phát triển kinh tế khá cao. Đồ đồng không phong phú như đồ sắt, chủ yếu qua tiếp xúc và trao đổi với cư dân văn hóa Đông Sơn (rìu, giáo, lao… ở Gò Mả Vôi, Bình Yên…), văn hóa Hán (tiền đồng, gương đồng, bộ đồ đồng ở Lai Nghi, Tiên Lãnh…). Việc chế tác đồ đồng của cư dân Sa Huỳnh ở Quảng Nam cũng được ghi nhận nhưng chỉ dừng lại ở mức độ và quy mô nhỏ, kỹ thuật không cao, sản phẩm kích thước nhỏ và hình dáng đơn giản (địa điểm thôn Tư). Đồ trang sức đa dạng về chất liệu với thủy tinh, đá, vàng, bạc, phong phú về loại hình từ hạt chuỗi, khuyên tai, vòng đeo. Kết quả khai quật khảo cổ học chứng minh cư dân Sa Huỳnh đã chế tác thủy tinh tại chỗ và có nghề thủ công chế tạo thủy tinh phát triển; trang sức đá được chế tác từ các nguyên liệu nhập khẩu hoặc nhập khẩu bên ngoài như hạt chuỗi mã não, mã não khắc axit,.. nguồn gốc từ Ấn Độ. Bộ sưu tập các di vật này một mặt phản ánh một số ngành nghề trong xã hội đã có sự chuyên môn hóa và tách khỏi nông nghiệp như nghề làm đồ gốm, nghề rèn, nghề làm đồ trang sức, đồng thời thể hiện mối quan hệ giao lưu tiếp xúc của cư dân Sa Huỳnh ở Quảng Nam với cư dân văn hóa Đông Sơn, các trung tâm kim khí ở Đông Nam Bộ, văn hóa Hán, Ấn Độ hay khu vực Đông Nam Á.

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu giai đoạn tiền Sa Huỳnh, sang giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, cư dân cổ trên vùng đất Quảng Nam đã mở rộng không gian sinh sống, chiếm lĩnh nhiều dạng địa hình và kiểu sinh thái, hình thành nên các cụm dân cư tập trung như Hội An (An Bang, Hậu Xá, Thanh Chiếm, Lai Nghi), Tiên Lãnh – Phước Gia, Duy Trung (Gò Mả Vôi, Gò Miếu Ông, Gò Bờ Rang, Núi Vàng…). Số lượng di tích và di vật phát hiện được cho thấy cộng đồng cư dân ở đây đã tiến hành các hoạt động kinh tế đa ngành, một số ngành có quy mô sản xuất lớn và chuyên môn hóa. Nhu cầu tiêu thụ của cộng đồng cư dân và xã hội ngày càng tăng mạnh kéo theo sự mở rộng và phức tạp hóa mạng lưới trao đổi trong, ngoài. Một “mạng lưới trao đổi ven sông” không chỉ về kinh tế mà cả chính trị, văn hóa đã diễn ra giữa các cộng đồng cư dân Sa Huỳnh ở Quảng Nam với nhau và với bên ngoài, từ Ấn Độ, Trung Hoa, Địa Trung Hải, Bắc Việt Nam… Những tiếp xúc và trao đổi văn hóa càng gần giai đoạn kết thúc càng diễn ra mạnh mẽ, một mặt nào đó tác động đến sự thay đổi cấu trúc xã hội. Trên nền tảng kết cấu kinh tế nông nghiệp – biển, cộng đồng cư dân văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam đã đạt đến trình độ phát triển nhất định. Sự phát triển này cùng với các mối quan hệ văn hóa ngoại sinh trở thành tiền đề để cộng đồng cư dân sinh tụ trên vùng đất này tiến lên văn minh trong các giai đoạn sau.

Như vậy, trong mấy nghìn năm từ khi cư dân đầu tiên có mặt trên vùng đất Quảng Nam cho đến khi kết thúc giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, bước sang giai đoạn có nhà nước đầu tiên – Nhà nước Lâm Ấp là quá trình phát triển nội tại kết hợp giao lưu, tiếp xúc các yếu tố bên ngoài của cộng đồng cư dân sinh tụ trên vùng đất này. Sự chuyển biến từ thời đại đá mới sang thời đại kim khí tại Quảng Nam dù chưa được kết nối, nhưng kết quả mà khảo cổ học mang lại đã góp phần minh chứng một thời kỳ tiền sơ sử phát triển sinh động, đa sắc thái của cư dân xứ Quảng nói riêng, miền Trung nói chung.

N.T.N

Chú thích:

(1) Lâm Thị Mỹ Dung (2017), Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Champa: Thế kỷ V trước Công nguyên đến thế kỷ V sau Công Nguyên, NXB Thế giới, Hà Nội, trang 127.