Phát huy luật tục trong bảo vệ rừng – Nhìn từ lễ khai năm mới

Người Cơ Tu quan niệm, ở đâu có rừng thì con người mới tồn tại và phát triển được. Bởi vì rừng không chỉ cho con người sự sống, mà còn là cội nguồn văn hóa; rừng cho người Cơ Tu cái cây để dựng Gươl, dựng nhà, cho những mùa vụ bội thu, thóc lúa đầy kho, đầy nhà, cho dân làng được ấm no, che chở cho cuộc sống của họ được an lành.

Vũ điệu Tân tung – Da dá trong lễ tạ ơn rừng

Rừng trong đời sống và văn hóa của người Cơ Tu huyện Tây Giang.

Trong đời sống cũng như trong văn hóa truyền thống của người Cơ Tu, rừng chiếm một vị trí quan trọng bởi đó là nguồn sống, là cội nguồn văn hóa của dân tộc này. Người Cơ Tu từ bao đời nay đều sống dựa vào núi rừng, sông suối; rừng nuôi sống, chở che, là nơi cung cấp những nhu cầu hàng ngày cho cuộc sống vốn còn nặng về tự cung tự cấp của đồng bào. Bởi vậy, người Cơ Tu luôn có thái độ trân trọng đối với rừng, nhất là đối với các khu rừng thiêng, rừng đầu nguồn với quan niệm: rừng còn thì người Cơ Tu còn, rừng mất người Cơ Tu mất.

Từ xa xưa, người Cơ Tu luôn có ý thức về bảo vệ rừng, như bảo vệ cuộc sống của chính họ. Việc bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, các khu rừng già đã trở thành một bản năng và kết tinh lại thành các giá trị trong văn hóa truyền thống của người Cơ Tu. Những câu chuyện về thần rừng, về ma rừng hay về các khu rừng ma, về các đấng thần linh trú ngụ trong các khu rừng luôn được người già truyền lại cho các thế hệ con cháu như lời nhắn nhủ về giá trị và tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của người Cơ Tu để mà có thái độ ứng xử phù hợp, để bảo vệ và trân trọng rừng, từ đó không xâm hại đến rừng. Luật tục Cơ Tu xử phạt nặng thành viên của làng và bên ngoài làng nếu cố tình vi phạm bởi họ quan niệm, nếu tàn phá rừng thì cả làng sẽ bị thần linh nổi giận mà trừng phạt, khiến cho thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên miên.

Người Cơ Tu xưa quản lý và bảo vệ rừng chủ yếu bằng luật tục. Họ coi mỗi khu rừng đều có chủ để thực hiện việc bảo vệ, khai thác và săn bắt cho phù hợp. Nếu người từ nơi khác đến, muốn vào rừng khai thác, săn bắt thì phải xin phép chủ rừng và khi được sự đồng ý mới được phép vào rừng, với điều kiện không được khai thác, săn bắt bừa bãi, trái với luật tục quy định.

Theo phong tục, trước khi phát rừng làm rẫy, người Cơ Tu phải đến nơi định chọn đất phát rẫy trong năm đó để xin thần đất, thần rừng cho phép. Lễ vật đem theo thường là con gà trống, hoặc chỉ đơn giản một quả trứng để xin thần đất, thần rừng cho gia chủ được phát rẫy trong năm với một diện tích nhất định nào đó. Sau khi phát một vạt đất tượng trưng, người chủ sẽ xin với thần đất, thần rừng, rằng: nếu thần đất, thần rừng ưng thuận thì ban đêm báo mộng cho biết điều tốt, điều lành; nếu không đồng ý thì cũng báo cho biết điều ác để đi tìm nơi khác. Trong đêm đó, nếu gia chủ mơ thấy điềm báo tốt thì sẽ tiến hành phát đốt trên một diện tích đúng như đã xin với thần đất, thần rừng; còn nếu mơ thấy điềm ác thì không phát, không đốt tại địa điểm đã xin, mà phải đi tìm chỗ khác.

Quang cảnh làng Cơ Tu

Khi phát rẫy, người Cơ Tu thường tìm đến những khu rừng không quá non hoặc không quá già để không hại đến các cây con cũng như các khu rừng thiêng của làng mình hoặc làng khác. Thường mỗi gia đình có vài khoảnh rừng như vậy để làm rẫy, mỗi một khoảnh rừng chỉ sản xuất một mùa rẫy, vài năm sau lại quay trở lại mảnh đất ban đầu theo một quy trình khép kín nhằm làm cho đất đai có thể tái tạo, phục hồi. Việc phát rẫy tại các khu rừng có nghĩa địa, khu rừng thiêng (tức những khu rừng có nhiều cây cổ thụ, cây gỗ quý), rừng đầu nguồn bị cấm tuyệt đối. Quy định này luôn được cộng đồng làng tuân thủ, không ai dám vi phạm vì sợ xúc phạm đến thần linh, làm hại đến làng.

Trong luật tục của người Cơ Tu, việc phá rừng hại núi là điều hết sức cấm kỵ, nhất là việc tự ý chặt phá các loại cây cổ thụ như cây đa, cây lim, cây Pơmu, kiền kiền… bởi họ quan niệm, những cây cổ thụ này đã sinh sống cùng với rừng, với người Cơ Tu từ bao đời. Cây cổ thụ cũng là nơi trú ngụ của thần linh, của hồn người chết không nơi nương tựa nên cây rất thiêng. Việc phá cây cũng giống như phá nhà của thần linh, sẽ khiến thần linh nổi giận mà bắt phạt dân làng. Đối với người Cơ Tu, nếu ai có những hành động xâm hại đến rừng núi thì phải làm lễ cúng rừng để tạ tội, nhận lỗi với rừng. Nếu không cúng, không xin lỗi thì thần linh sẽ nổi giận mà đem tai ương, bệnh tật, chết chóc (chết xấu) đến cho dân làng.

Trước đây, việc cúng rừng thường rất tốn kém về thời gian và của cải. Việc cúng có thể kéo dài đến 5-6 ngày và bao giờ cúng có tổ chức ăn uống linh đình. Trong những ngày làng tổ chức cúng rừng thường triệt để “nội bất xuất ngoại bất nhập”, người ngoài làng nếu vô tình bước vào làng trong những ngày này sẽ bị làng phạt rất nặng, hoặc có thể bị mất mạng nếu không nộp phạt đủ theo yêu cầu.

Lễ hội Khai năm tạ ơn rừng.

Đối với người Cơ Tu, Lễ khai năm tạ ơn rừng thể hiện lòng biết ơn Giàng – Mẹ của đại ngàn, cảm ơn núi rừng, sông suối, cảm ơn các vị thần linh đã đem đến cho dân làng những vụ mùa ấm no, những điều tốt lành và cầu xin sự tha thứ nếu ai đó đã chẳng may xúc phạm đến thần linh. Lễ tạ ơn rừng thường được tổ chức vào đầu năm mới, khi cây cối trên rừng, trên núi đã đâm chồi nảy lộc, khi cái rẫy cái nương đã phát xong và chỉ chờ nắng lên sẽ đốt, tỉa.

Trong dịp này, dân làng thường đem những của cải có giá trị của làng, của gia đình như trâu, bò, chiêng, chóe, nồi đồng, trống đồng, chuỗi hạt mã não, tấm tút, chuỗi cườm… trưng bày tại Gươl để cho các thần linh biết mà giúp dân làng sang năm mới làm ăn thuận lợi gấp bội lần năm cũ. Lễ vật dâng cúng, tùy điều kiện của mỗi làng trong từng thời điểm, nhưng phải có các con vật sống như trâu (hay bò), heo, dê, chó, gà trống và các thức xôi, cơm, chóe rượu cần… Các vật cúng có thể được tập trung tại Gươl hoặc tại địa điểm cúng.

Trong ngày cúng đầu tiên, dân làng đem một con dê sống để dâng báo thần linh biết, sau đó giết con dê ấy, lấy máu bôi vào các cột nhà, các đồ quý, dụng cụ sản xuất và các loại giống cây trồng với quan niệm: máu dê có mùi tanh nên có thể đuổi được tà ma. Sau đó tiếp tục giết con chó chôn xuống đất để hồn chó gác rừng, gác làng, đuổi ma quỷ sau này đừng làm hại dân làng. Sang ngày hôm sau, tiếp tục lấy con heo, con gà cắt tiết cúng. Máu dê, máu gà tiếp tục được bôi lên các vật để cúng Giàng và hồn của người chết lành (chết tốt). Người Cơ Tu tin rằng, đến thời điểm này làng không còn ma còn quỷ nên dắt trâu/ bò vào, kèm theo một con heo sống, cùng trống chiêng, mâm cúng đầy đủ rượu, các thức ăn khác đi vòng quanh cây Nêu báo cáo thần linh việc cúng tế chính thức bắt đầu.

Khi đi hết vài vòng tại trụ Nêu, chủ cúng buộc trâu vào xờ nu và cúng. Lời văn cúng đại ý: bao năm nay làng sống nhờ rừng, nhờ trời, nhờ đất, nhờ thần linh che chở, nuôi nấng nhưng không tránh khỏi những sai sót. Nay làng lấy trâu, heo xin thần linh tha thứ; cầu cho dân làng được yên vui, sức khỏe, lúa ngô đầy kho, chiêng chóe đầy nhà, cháu con đầy làng… Đêm hôm đó, trong khi các cụ già khóc tế trâu hoặc nói lý, hát lý, cả làng tập trung múa hát, thanh niên tổ chức tiếp đón khách quý đến mừng, cùng nổi trống chiêng và múa tân tung, da dá.

Sáng hôm sau, trước khi làm lễ hiến trâu, Hội đồng già làng lên lại khu rừng cúng và kính cẩn báo cáo thần rừng, thần núi, thần sông suối rằng con trâu sắp làm thịt, gan, tiết và thịt ngon của trâu sẽ dâng trước các ngài…

Trước khi kết thúc lễ, chủ làng cúng đầu trâu và mời tất cả thành viên làng tập trung tại Gươl nghe già làng chỉ bảo, ngợi khen những việc làm tốt trong năm của từng thành viên làng; răn dạy những điều cấm kỵ, nhất là không được xâm hại đến núi rừng, sông suối, đất đai; nhắc nhở các thành viên của làng sống siêng năng, ăn ở hiền hòa với mọi người, kính trên nhường dưới.

Trong thời gian gần đây, ở nhiều địa phương, việc phá rừng làm rẫy diễn ra phức tạp, nhiều khu rừng già, rừng đầu nguồn dần bị xóa sổ, kéo theo đó là biết bao hệ lụy về môi trường sinh thái và cả về văn hóa cộng đồng. Do đó, việc phát huy các giá trị tốt đẹp, nhất là các tri thức liên quan đến mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên nhằm hạn chế sự phá hoại của con người đối với môi trường tự nhiên rất cần được nhân rộng. Với đồng bào Cơ Tu huyện Tây Giang, mặc dù còn bảo lưu nền nông nghiệp bằng canh tác nương rẫy, nhưng rừng lại được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, với độ che phủ chiếm tới trên 70% diện tích tự nhiên là những minh chứng cho quyết tâm bảo vệ rừng của chính quyền địa phương, bên cạnh phát huy vai trò của cộng đồng.

T.V.D