Nhà thờ tộc Tăng, làng Minh Hương – Hội An

Vào những thế kỷ XVI – XVIII, Hội An là đô thị thương cảng phát triển khá phồn thịnh, nơi tụ cư lập nghiệp và giao thương của nhiều cư dân, thương nhân có quốc tịch khác nhau, đặc biệt là người Hoa, trong đó có tộc Tăng. Tộc Tăng là một trong những tộc có danh tiếng ở làng Minh Hương – Hội An, gia tộc này có nhiều người đỗ đạt làm quan như cụ Tăng Thức (đời thứ 5) thi đỗ lưỡng khoa Tú tài Hán học, được triều Nguyễn truy tặng Phụng Giảng Đại Phu (hàm ngũ phẩm); cụ Tăng Huynh (đời thứ 6) là Tham tá ngạch Thương chánh, hàm tứ phẩm, tước “Hồng Lô Tự Khanh”; cụ Tăng Ngưng, Tăng Dục (đời thứ 6) cũng được ban hàm tứ phẩm, tước “Hồng Lô Tự Khanh”…

Theo gia phả, nguyên quán tộc Tăng thuộc huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Vào đầu thế kỷ XVIII, ông tổ là Tăng Xích Nương sang Việt Nam lập nghiệp, định cư tại ấp Tu Lễ, làng Minh Hương, hiện nay con cháu đã truyền đến đời thứ 9.

Để thờ phụng các bậc tổ tiên và làm địa điểm sum tụ tưởng nhớ đến công đức sinh thành dưỡng dục, con cháu tộc Tăng đã lập một ngôi Từ đường mà ngày nay là ngôi nhà số 16 Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc khối IV phường Cẩm Phô, thành phố Hội An.

Ngôi từ đường nằm trên khu đất cao ở phía Bắc đường Nguyễn Thị Minh Khai, trong không gian có nhiều di tích tín ngưỡng, dân dụng và khảo cổ học quan trọng. Đây là công trình kiến trúc bằng gỗ, kiểu nhà hình ống, mặt tiền xây về hướng Nam. Bố cục mặt bằng gồm nhà trước và nhà sau, không có nhà cầu nối và sân trời; hệ mái lợp ngói âm dương, hệ khung chịu lực bằng gỗ, tường bao xây bằng gạch vữa vôi và được trổ rất nhiều cửa sổ, lối đi bố trí giữa nhà.

Khuôn viên ngôi từ đường được giới hạn bởi tường rào xây bằng gạch cao gần 2m với hai cổng thông với bên ngoài. Cổng sau nhỏ nhưng đã bị bịt kín. Vào di tích duy nhất bằng cổng chính ở phía trước. Cổng chính có mái che lợp ngói âm dương với 14 vồng ngói dương, tam cấp 3 bậc được lát đá, cửa gỗ mở sang hai bên. Phần phía Tây mái che cổng chính, mái sau được kéo dài tạo thành nếp nhà nhỏ nằm sát cổng. Sân trước được lát gạch thẻ, phía Nam của sân, sát tường rào có bồn đất trồng hoa cây cảnh.

Nhà trước có 2 nếp. Gian hiên được ngăn cách với nội thất bên trong bởi hệ thống cửa mặt tiền gồm ba bộ, mỗi bộ có 4 cánh kiểu thượng song hạ bản. Đố phía trên bộ cửa giữa có hai mắt cửa trang trí đề tài “Âm dương – lá đề”, các cánh của lá đề xoay từ ngoài vào trong. Nội thất gồm 3 gian chiều ngang và 4 gian chiều sâu, trong 3 gian chiều ngang thì gian giữa rộng nhất. Hệ mái lợp ngói âm dương theo kiểu bình ngõa, tỷ lệ lộ thiên 1 phần 3, mặt cắt dòng chảy dao động từ 10 -12cm. Nếp trước mỗi mái có 23 vồng ngói dương, mỗi mái ở nếp sau có 24 vồng ngói dương. Bờ nóc đắp giật cấp, cong hình thuyền, bờ chảy trang trí giật cấp vừa sắc sảo vừa mềm mại uyển chuyển. Mái hiên giật cấp tạo thành cổ diêm. Nếp trước mỗi mái có 32 cây rui, nếp sau mỗi mái có 30 cây rui. Gốc cây đòn đông đặt ở phía Đông. Tổng cộng có 22 cây đòn tay, trong đó mái hiên có 4 cây, nếp trước mỗi mái có 3 cây, nếp sau mỗi mái có 6 cây. Kết cấu vì kèo theo kiểu cột trốn kẻ chuyền, kèo được tạo dáng mềm mại theo kiểu giật cấp kết hợp với hạch chỉ và chạm trổ trang trí tinh xảo, đặc biệt là kèo nếp trước và kèo hiên. Đầu kèo nếp trước và kèo hiên chạm hình đầu con cù, mặt dưới của kèo hiên trang trí đề tài quả đào. Trụ đội của nếp trước chạm trổ cách điệu hồi văn, hoa. Kèo sau nếp trước được đỡ bởi cột trốn được tạo dáng hình trái bí. Cột gỗ tròn, đường kính dao động từ 17-20cm. Hàng cột hiên táng đá với 3 lớp, viên đá hình tròn đặt ở trên cùng, tiếp đến là viên đá hình bát giác, dưới cùng là lớp gạch xếp hình vuông.

Nhà sau nằm sát nhà trước, được giới hạn bởi tường gạch chắn ngang có cửa thông ở chính giữa. Kết cấu 2 tầng, bố cục mặt bằng chia thành 3 gian, sàn gác lát ván. Mái lợp ngói âm dương kiểu bình ngõa với 27 vồng ngói dương, tỷ lệ lộ thiên 1 phần 4, mặt cắt dòng chảy dao động 8 – 9cm. Bờ nóc đắp giật cấp, cong hình thuyền, bờ chảy thẳng, không trang trí. Mỗi mái có 32 cây rui nằm cách nhau 11,5cm, gốc đòn đông đặt ở phía Đông, 14 cây đòn tay chia đều cho hai mái. Cầu thang bố trí ở phía Bắc gian phía Tây, có hai phần, phần trên bằng gỗ với 10 bậc cấp, phần dưới xây bằng gạch ciment cuốn vòm với 5 bậc cấp.

Không gian văn hóa trong ngôi nhà thờ được bố trí gồm: Bàn thờ tộc đặt ở gian phía Tây nếp sau nhà trước. Gian đặt bàn thờ có nền cao hơn xung quanh và khu biệt với không gian bên ngoài bởi tường gạch và cửa đi. Vào gian thờ bằng cửa hông phía Đông, cửa chính phía trước gian thờ chỉ mở vào những ngày cúng kỵ. Phía sau cửa chính có rèm vải màu đỏ vắt sang hai bên. Bàn thờ nằm ở chính giữa gian thờ, trên bàn thờ đặt bộ tam sự bằng đồng, lò đốt trầm, bình hoa bằng sứ, đôn gỗ để đặt mâm hoa quả, quần bàn thêu 3 chữ “Phước – Lộc – Thọ” kiểu Hán tự. Ngai thờ các bậc tổ tiên áp sát tường phía Bắc và phía Đông gian thờ. Ngai thờ được trang trí rất tôn nghiêm. Ngai thờ chính nằm sát tường phía Bắc, đặt 4 bài vị và một số di ảnh, mặt xây hướng Nam, tráng ngai đề chữ Hán “Khai – Nghiệp – Truyền – Thế”, hai bên là câu đối “Tử hiếu từ tôn vạn đại như kiến – Tổ công tông đức bách thế bất thiên”. Ngai thờ bên phải cũng treo một số di ảnh, bài vị và phổ đồ. Phía bên trái là tủ đựng vật thờ tự. Gian phía Đông nhà sau và tầng gác bố trí làm nơi ở. Tầng gác có hai bàn thờ, bàn thờ Phật đặt ở tường phía Đông, bàn thờ bà Mụ đặt trên giá ngang ở gian giữa, mặt hướng về phía Bắc. Bếp bố trí phía Đông nếp chái phía sau nhà sau. Giếng nước nằm ở phía Đông Bắc của vườn sau.

Mặt tiền và nội thất nhà trước trang trí các bức hoành gỗ đề chữ Hán. Phía trên mắt cửa treo bức hoành đề “Hòa Phong”, phía trước nếp sau treo 3 bức hoành lớn, bức chính giữa đề “Tăng Tự Đường”, bức bên phải đề “Bằng Trình Vạn Lý”, bức bên trái đề “Tinh Xán Nhất Đường”, bức hoành đề chữ “Nam Hải Tân Triều” đặt phía trên cửa thông sang nhà sau. Ngoài ra, trên đà gỗ nối hai cột cái trước nếp sau còn treo bức hoành đề “Hoa Quốc Văn Chương”.

Là công trình kiến trúc tín ngưỡng của một tộc họ danh tiếng của làng Minh Hương, nhà thờ tộc Tăng là nơi hội tụ nhiều yếu tố văn hóa tâm linh. Ngoài các đề tài trang trí trên cấu kiện gỗ, số lượng các cấu kiện kiến trúc thể hiện ý niệm cầu mong sự phát triển. Đặc biệt, hũ sành đựng một số đồng tiền đồng chôn sát chân móng tường phía Tây trước gian thờ là biểu hiện của một số hình thức tín ngưỡng trong kiến trúc như quan niệm của người xưa “móng chôn hũ tiền đồng, đòn đông treo bình ngũ cốc”. Ngoài ý nghĩa trấn yểm để ngôi nhà tránh khỏi những tai họa, con cháu trong gia tộc được an lành…còn thể hiện ước nguyện các thế hệ sau này được thành đạt trên đường công danh, thịnh vượng trong đời sống kinh tế và đặc biệt dòng tộc được phát triển đông đúc.

Ngoài giá trị văn hóa – nghệ thuật của công trình kiến trúc, khuôn viên di tích còn là địa điểm phân bố của di chỉ khảo cổ học có niên đại đầu thế kỷ XVII với số lượng di vật rất phong phú mà đặc biệt là đồ sứ Hizen – Nhật Bản. Nhà thờ Tăng thực sự là địa chỉ văn hóa đầy thú vị.

                                                    V.H.V