Nghề thủ công và kỹ thuật sản xuất ở trung tâm Trung Trung bộ thời sơ sử

Vào cuối thời đá mới, đầu thời đại đồng thau, con người có xu hướng mở rộng địa bàn cư trú xuống vùng đồng bằng ven sông, ven biển. Những chuyển biến trong xã hội như dân số tăng, kinh tế nông nghiệp sơ khai dần thay thế kinh tế săn bắn và hái lượm… đã thúc đẩy con người quy tụ lại những vùng thuận lợi cho trồng trọt, giao thông đường thủy, tiềm tàng cho những hoạt động khai thác thức ăn ở vùng ven sông ven biển. Những trung tâm cư trú hay sản xuất được hình thành thời kỳ này phần lớn đều tập trung ở những vùng đồng bằng chính yếu, cạnh các dòng sông lớn. Với sự ổn định từ kinh tế lương thực và sự đa dạng của môi trường sống cùng nguồn tài nguyên phong phú đã giúp các nghề thủ công ở những khu vực này có điều kiện phát triển.

Gốm Sa Huỳnh trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ngãi

Ở trung tâm Trung Trung bộ, từ giai đoạn sơ kỳ thời đại đồng thau đến thời đại sắt, một loạt các địa điểm thuộc văn hóa Xóm Cồn, văn hóa Long Thạnh, văn hóa Sa Huỳnh… được phát hiện với khối lượng di vật phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, chất liệu đã phần nào phản ánh sức sản xuất mạnh mẽ của trung tâm này. Các nghề chế tác đá, làm đồ gốm, luyện kim, chế tạo thủy tinh là những nghề thủ công chủ yếu trong xã hội lúc bấy giờ.

Nghề chế tác đá sử dụng kỹ thuật chế tác chủ yếu là ghè đẽo, mài, chuốt bóng, cưa, khoan. Trong văn hóa Xóm Cồn, đồ đá được làm từ đá trầm tích biến chất hoặc đá cuội khai thác tại chỗ. Đặc trưng nổi bật của đồ đá ở đây là loại rìu, bôn, đục không có vai, phổ biến là loại rìu bôn hình thang đốc thuôn nhỏ, có mặt cắt ngang hình chữ nhật hoặc thấu kính. Rìu, bôn, đục được chế tác bằng hai thủ pháp kĩ thuật cơ bản là ghè đẽo và mài. Kỹ thuật khoan, cưa, đánh bóng được dùng để chế tạo đồ trang sức. Ở giai đoạn Long Thạnh, đồ đá đặc trưng là cuốc hình “lưỡi mèo” và bôn “răng trâu”. Sang giai đoạn Bình Châu, công cụ đá vẫn chiếm vị trí chủ đạo, phổ biến loại cuốc hình “lưỡi mèo”. Rìu có vai giai đoạn này có sự thay đổi, phần đốc có xu thế dài hơn và phần lưỡi ngắn hơn nhưng rìa lưỡi rộng hơn. Về kỹ thuật chế tác đá giai đoạn này và giai đoạn Long Thạnh về cơ bản giống kỹ thuật chế tác trong văn hóa Xóm Cồn. Đồ trang sức bằng đá chủ yếu được làm từ loại đá ngọc, loại hình phổ biến là vòng tay và khuyên tai. Đến thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh, nghề chế tác đá có sự suy giảm vai trò, nhường chỗ cho sự vươn lên của các ngành thủ công khác. Chế tác đá thời kỳ này chủ yếu là chế tạo đồ trang sức, đặc biệt là loại khuyên tai 3 mấu và khuyên tai 2 đầu thú là loại khuyên tai rất độc đáo trong văn hóa Sa Huỳnh. Cho đến nay, ở miền Trung Trung Bộ được biết với hai di chỉ xưởng cơ bản là di chỉ Rú Dầu và Đa Kai. Rú Dầu mặc dù nằm ở vùng Bắc Trung Bộ nhưng về mặt kỹ thuật và sản phẩm lại đại diện cho những di tích hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau ở miền Trung Việt Nam giống như di chỉ xưởng Đa Kai. Và ở miền Trung Trung bộ không tồn tại các di chỉ xưởng chế tạo đồ trang sức bằng đá như ở vùng Bắc Trung bộ(1).

Nghề làm đồ gốm ở trung tâm Trung Trung bộ trải qua ba giai đoạn phát triển: Long Thạnh – Bình Châu – Sa Huỳnh. Ở giai đoạn Long Thạnh, nghề gốm phát triển độc đáo và đa dạng, phân bố ở khu vực duyên hải Trung Bộ bao gồm các di chỉ như Long Thạnh, Truông Xe, Mỹ Tường… Gốm pha cát với tỷ lệ nhiều và không chọn lọc, do đó gốm cứng. Loại hình gốm đa dạng với bình có chân đế hình lọ hoa dáng cao, cổ thon, hông phình rộng với đồ án trang trí thành băng dài phức tạp, kết hợp miết bóng là chủ đạo trang trí trên gốm tùy táng lẫn chum gốm. Nét nổi bật và sau này tạo thành đặc trưng cho văn hóa Sa Huỳnh là loại chum hay vò lớn, có nắp đậy hình bát dùng làm quan tài giai đoạn sớm, chum có dáng hình trứng và nắp đậy là những bát mâm bồng hình nón, đế thấp. Thân bát bên ngoài trang trí các hoa văn khắc vạch uốn lượn như trên các bình hình lọ hoa và trên mép miệng được cắt thành hình răng cưa, cụm thành từng nhóm. Hoa văn trang trí phổ biến là ấn mép vỏ sò và tô chì thành băng dài. Văn tô màu tạo nên các băng chủ đạo trên gốm, chủ yếu là các băng hình làn sóng. Nguyên liệu tô màu là những thỏi chì, được mài thành bột, có lẽ được tô vẽ lên gốm trước khi nung (2).

Sang giai đoạn Bình Châu, gốm có một phong cách mới so với giai đoạn Long Thạnh. Bên cạnh những yếu tố của giai đoạn trước như dáng gốm thanh thoát, được tạo bởi các đường cong uốn lượn, gốm Bình Châu có xu thế mở rộng ở bụng hoặc vai để tạo nên dáng gốm với những đường cong chuyển đột ngột từ cổ xuống thân hoặc từ vai xuống chân. Đáy gốm có xu thế tròn hơn và hẹp hơn. Các thủ pháp tạo đường gờ đắp thêm không được áp dụng mà thay vào là các thủ pháp tạo đường ấn lõm hình lòng máng ở miệng và chân đế. Dáng miệng và chân đế được chú trọng hơn cũng là điểm nổi nét của giai đoạn này. Các bình gốm ở Bình Châu mang ý nghĩa thực dụng cao hơn ý nghĩa trang trí, phản ánh mối liên hệ gần gũi với loại bình gốm ở vùng Nghệ Tĩnh. Không những thế, nghệ thuật trang trí ở giai đoạn này cũng có nhiều nét mới. Phổ biến văn in chấm dải, các đường khắc vạch gãy hình dic-dắc, hình thoi… văn tô màu đặc biệt là màu đen ánh chì được sử dụng phổ biến nhất.

Gốm Sa Huỳnh phát triển cao và mang nét văn hóa riêng. Đặc trưng của gốm Sa Huỳnh là sự phổ biến các đồ gốm lớn, đó là những loại chum lớn dùng làm quan tài mai táng. Chum có nhiều loại, căn cứ vào hình dáng và nắp đậy có thể chia thành chum hình trứng, nắp đậy hình lồng bàn úp, chum hình trụ, nắp đậy hình chóp cụt và chum hình cầu. Ngoài chum, các loại nồi, bình có gờ nổi trên vai, các loại bát sâu lòng, bát chân cao cũng là những đồ gốm đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh. Hoa văn trang trí trên đồ gốm gồm văn thừng, văn khắc vạch kết hợp in chấm tạo mô típ các đường uốn lượn, văn in mép vỏ sò, văn chải, văn in… Gốm Sa Huỳnh sơ kỳ sắt có ba loại hình địa phương là loại hình Phú Khương, loại hình Tam Mĩ – Đại Lãnh và loại hình Phú Hòa – Hòa Vinh với nhiều yếu tố riêng và yếu tố tương đồng.

Về kỹ thuật tạo dáng, căn cứ vào những dấu vết kỹ thuật còn lại trên đồ gốm cho thấy gốm Sa Huỳnh được làm bằng tay với hai công đoạn chính là tạo dáng và chỉnh sửa. Những đồ gốm lớn như chum gốm sử dụng kỹ thuật ghép nối con chạch với sự hỗ trợ của bàn đập, hòn kê. Những đồ gốm gia dụng dùng kỹ thuật dải cuộn, ấn tay, nặn nguyên khối kết hợp ghép nối con chạch. Đồ gốm sau khi được tạo dáng cơ bản sẽ tiến hành cạo sửa, các phần như chân đế, vành trong của miệng đèn gốm được ghép sau khi bề mặt gốm hơi se lại. Các hoa văn trang trí trên đồ gốm được tạo bằng kỹ thuật in, khắc vạch, tô màu, các văn thừng liên quan nhiều đến yếu tố kỹ thuật hơn là trang trí. Đồ gốm Sa Huỳnh được nung ngoài trời với nhiệt độ nung trong khoảng 600-9000C(3).

Cùng với nghề làm gốm, nghề luyện kim là nghề thủ công khá phát triển ở trung tâm Trung Trung bộ. Người Sa Huỳnh đã biết chế tạo đồng thau để làm công cụ và đồ trang sức. Từ thời kỳ đồng thau, cư dân Bình Châu, Bàu Trám đã biết tới kỹ nghệ này. Trong các khu cư trú và mộ táng ở giai đoạn này đã phát hiện được nồi nấu đồng, khuôn đúc, xỉ đồng và hiện vật đồng. Tuy nhiên sự phát triển của nghề luyện kim đồng thau ở đây không bằng trung tâm Đông Sơn và Dốc Chùa. Do vậy cư dân Sa Huỳnh đã trao đổi và du nhập sản phẩm đồng thau từ cư dân văn hóa Đông Sơn, Đồng Nai và văn hóa Hán. Mặc dù kỹ nghệ luyện đồng không đạt nhiều thành tựu nhưng kỹ nghệ luyện sắt lại phát triển mạnh mẽ ở khu vực này. Đồ sắt Sa Huỳnh không những phong phú mà còn đa dạng về loại hình như cuốc, giáo, kiếm… Sự phổ biến của đồ sắt không chỉ có ý nghĩa đánh dấu thời đại mà còn liên quan đến kỹ thuật làm chủ quy trình luyện sắt của chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh. Qua việc phân tích kim tướng học đồ sắt Sa Huỳnh cho biết sắt trong văn hóa Sa Huỳnh được làm từ phương pháp hoàn nguyên trực tiếp. Gần đây trên đất nước ta các lò thủ công luyện sắt cổ truyền vẫn theo phương pháp này. Sau khi nấu luyện thành sắt, phương pháp tiếp theo là rèn hay đúc, nặn. Kỹ thuật rèn nóng được người Sa Huỳnh sử dụng. Người Sa Huỳnh còn dùng phương pháp thẩm thán, tức là sắt sau khi rèn  được khuếch tán cacbon sao cho lưỡi sắc bén, công cụ đủ độ dẻo, bền khi sử dụng(4). Ngoài việc rèn sắt, người Sa Huỳnh còn biết đúc gang. Tài liệu ở khu mộ Đại Lãnh phản ánh rõ điều này. Trên cơ sở nghề rèn sắt phát triển, cư dân Sa Huỳnh đã tiến hành trao đổi  buôn bán với các cư dân khác.

Bên cạnh nghề rèn sắt, nghề chế tạo thủy tinh cũng phổ biến trong văn hóa Sa Huỳnh. Các sản phẩm chủ yếu là khuyên tai, hạt chuỗi… Việc chế tạo thủy tinh được bắt đầu từ khâu chuẩn bị nguyên liệu gồm cát và các chất phụ gia. Cát phải là loại cát trắng tinh, có tỷ lệ phần trăm silic cao và một tỷ lệ mảnh phế liệu thủy tinh phù hợp. Dụng cụ nấu bao gồm lò nấu – nồi nấu, lò ủ. Lò nấu có nhiều kiểu với các dạng lò nồi, lò bể, được kết cấu bằng đất đắp, xếp đá hoặc xây gạch. Nồi nấu được làm từ loại đất chịu lửa, có khối lượng to nhỏ khác nhau. Lò ủ có cấu tạo đơn giản, phù hợp với chức năng ủ nhiệt cho sản phẩm một thời gian nhất định ở nhiệt độ nhất định. Công cụ sản xuất gồm ống thổi bằng kim loại rỗng, chịu nhiệt, kéo để cắt, các vật để day, ấn, khía, bàn xoay tay, khuôn bằng đá, đất, gỗ hoặc ximăng, các loại bàn mài để tu sửa, giá đỡ, khay cát hoặc khay chịu nhiệt. Sau khi chuẩn bị xong nguyên liệu và các dụng cụ, tiến hành chuẩn bị khuôn mẫu. Sau đó nấu và đổ khuôn hay thổi khuôn. Tiếp đến là tạo dáng hiện vật bằng cách tu sửa, và cuối cùng là ủ sấy hiện vật, đánh bóng (5). Đồ thủy tinh ở miền Trung Việt Nam gần gũi với phong cách tạo thủy tinh ở Ấn Độ. Quan sát thủy tinh cổ có thể nhận thấy nhiệt độ nấu thuỷ tinh không cao lắm vì vẫn còn bọt đọng lại trong thủy tinh.

Khuyên tai hai đầu thú bằng đá và thủy tinh

Ngoài những nghề thủ công trên, ở trung tâm sản xuất Trung Trung bộ, một số nghề thủ công khác đóng vai trò phụ trợ trong sản xuất thủ công; những nghề này thừa hưởng các thành tựu kỹ thuật do nghề chế tác đá đem lại, đồng thời tạo điều kiện cho nghề chế tác đá đạt trình độ nhất định. Nghề đan lát hay chế tác tre nứa cũng phát triển trong giai đoạn này mà dấu vết là rất nhiều đục đá được tìm thấy. Nghề dệt xuất hiện từ sớm và cũng để lại nhiều dấu vết như các dọi xe chỉ, các dấu vết trên đồ gốm… Đặc biệt ở miền Trung Trung bộ, trong văn hóa xóm Cồn phổ biến nghề chế tác công cụ và đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể. Về cơ bản, kỹ thuật chế tạo loại này tương tự như kỹ thuật chế tác đá.

Có thể nói, vào giai đoạn sơ kỳ đồng, điểm đặc biệt trong sản xuất thủ công ở trung tâm Trung Trung bộ là sự pha trộn giữa sản xuất công cụ hay đồ trang sức vừa bằng đá vừa bằng nhuyễn thể. Kỹ thuật chế tạo công cụ bằng vỏ ốc cũng như công cụ đá chủ yếu là kỹ thuật ghè đẽo, mài… Nghề gốm, đan lát, dệt vải cũng tồn tại nhưng không phát triển như vùng phía Bắc. Sang giai đoạn sơ kỳ sắt, đồ gốm vẫn được sản xuất với những đặc trưng riêng của cư dân Sa Huỳnh. Giai đoạn này nghề thủ công nổi trội là nghề chế tạo thủy tinh và rèn sắt. Sắt chính là di vật đặc trưng của trung tâm này. Là một trung tâm phát triển mạnh mẽ ở vùng Trung Bộ, sự phát triển của nhiều nghề thủ công góp phần đáng kể vào sự thịnh vượng của nền kinh tế, làm cơ sở cho những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội miền Trung Việt Nam thời kỳ chuyển tiếp từ sơ sử sang lịch sử giai đoạn sau.

                                                               N.T.N

Tài liệu tham khảo:

(1),(4) Nguyễn Kim Dung (2005), Các nghề thủ công tiền sơ sử Việt Nam. Giáo trình sau đại học, trang 1-30.

(2) Hà Văn Tấn (chủ biên) (1999), Khảo cổ học Việt Nam, tập 2 – Thời đại kim khí Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, trang 322.

(3) Hoàng Thúy Quỳnh (2015), Kỹ thuật chế tạo đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam, Luận án tiến sĩ khảo cổ học, trang 119.

(5) Nguyễn Trường Kỳ (1996), Đồ thủy tinh cổ ở Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, trang 64-67.