Nghề làm gốm của đồng bào miền núi

Các dân tộc vùng Trường Sơn – Tây Nguyên từ thời xưa đã có nhu cầu sử dụng đồ gốm sứ. Cùng với nồi đồng, chiêng ché là những thứ tài sản có giá trị lớn, phải đổi bằng nhiều trâu, bò mới được sở hữu. Bên cạnh dùng tài sản để mua, đổi các loại ché sứ được làm ra từ các lò gốm ở đồng bằng, đồng bào miền núi còn biết sản xuất những loại đồ gốm thô bằng đất nung để dùng. Nhiều vùng cho đến nay nghề làm gốm vẫn còn tồn tại, tiêu biểu vùng núi Trường Sơn có người Cơ Tu, Bắc Tây Nguyên có nghề gốm của đồng bào Giẻ – Triêng, Ba Na, Nam Tây Nguyên có nghề làm gốm của người M’nông Rlâm…

Một số sản phẩm đồ gốm của dân tộc M’nông Rlâm

Nghề làm gốm đất nung của đồng bào Cơ Tu không phổ biến, chỉ hạn hẹp ở làng Ka Noonh (xã Axan, huyện Tây Giang). Đàn ông tham gia lấy đất và tạo dụng cụ, phụ giúp đốt lò. Người ta lấy đất sét trắng và đất sét vàng giã nhuyễn trên những phiến đá lộ thiên, nặn bằng tay trên mặt phẳng của các tảng đá vì chưa biết đến kỹ thuật bàn xoay. Sản phẩm nặn ra được phơi nắng một buổi cho đến một ngày rồi cạo, chỉnh sửa cho nhẵn, đẹp; sau đó hong trên giàn bếp 10-20 ngày cho khô nỏ trước khi nung. Mỗi mẻ gốm đốt 1-2 giờ là chín. Sản phẩm gốm khá phong phú, gồm các loại nồi đáy tròn, có quai hoặc không, có nắp đậy bằng lá… Người ta còn làm ra những hòn đầu rau, chõ, bát có chân đế, tẩu hút thuốc, chảo rang, ấm đun nước. Đồng bào Giẻ Triêng ở xã Phước Công, huyện Phước Sơn trước đây cũng biết làm đồ gốm đất nung nhưng nay đã thất truyền. Hiện nay chỉ còn lại một sản phẩm duy nhất được lưu giữ tại Trung tâm Văn hóa huyện Phước Sơn.

Tại xã Đăk Tờ Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum hiện còn một số nghệ nhân biết làm gốm truyền thống. Đây là nghề “mẹ truyền, con nối” của gia đình. Từ nhỏ, mỗi khi những người già làm gốm tại nhà Rông hoặc những lúc trong làng có lễ hội, đồng bào thường chăm chú theo dõi cách làm gốm và ghi nhớ những cách làm đó vào trong đầu. Ngoài việc thường xuyên làm gốm, vào các ngày lễ của làng, thợ gốm còn tham gia truyền dạy cho thế hệ trẻ về kỹ năng làm gốm dân gian. Đến nay, đã truyền dạy cho 6 người trong làng biết làm đồ gốm theo truyền thống của người Ba Na (nhánh Jơ Lâng). Vật dụng làm ra chủ yếu là đồ gia dụng trong nhà như: ghè rượu, chum vại, ché rượu, hay là những cái hong thổi xôi… Bà con tích cực động viên con cháu làm gốm truyền thống và truyền dạy kỹ thuật làm gốm cho lớp trẻ trong làng. Nhiều hiện vật gốm của đồng bào Ba Na được trưng bày ở Bảo tàng Kon Tum. Trong các lễ hội giao lưu văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, một số nghệ nhân dân tộc Ba Na được mời về tỉnh trình diễn cách làm đồ gốm để phục vụ khách tham quan.

Người Mnông Rlăm ở huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk có nghề làm gốm rất lâu đời. Đồng bào khai thác đất sét ở các chân núi gần làng để làm nguyên liệu sản xuất đồ gốm. Giống như một số dân tộc trong vùng, họ không dùng đến bàn xoay mà đi xung quanh chỗ đặt cố định để nặn đất tạo dáng hay chuốt gốm. Khi nặn và chuốt xong, đồng bào xếp các sản phẩm chồng lên nhau và lấy cỏ, rơm nung gốm lộ thiên chứ không nung trong lò. Sản phẩm làm ra chủ yếu là các loại nồi tròn có miệng nhỏ để nấu cháo, nấu nước, nấu thuốc…, hoặc nồi miệng rộng để nấu cơm và nấu thức ăn. Ngoài ra còn có chõ hấp xôi. Sau này khi nhu cầu nhiều hơn, người ta còn làm ra thêm nồi đồng (mô phỏng theo hình dáng nồi đồng của người Việt), chảo rang cà phê, hủ, ché… Trước đây, đồ gốm được làm ra ngoài việc sử dụng trong sinh hoạt còn được trao đổi trong làng và vùng lân cận. Hiện nay người thợ còn làm thêm các sản phẩm phục vụ khách du lịch như con trâu, con bò, con voi, hồ lô, lọ hoa…

Quy trình chế tác gốm của đồng bào vùng Trường Sơn – Tây Nguyên rất thô sơ, gần như nguyên thủy. Sản phẩm làm ra để phục vụ đời sống mang tính tự cung tự cấp, nhỏ lẻ của nghề chứ không lập thành làng nghề như các làng nghề của người Việt ở vùng đồng bằng. Công đoạn tạo hình dáng, hoa văn cho gốm hoàn toàn bằng tay. Người thợ đi vòng tròn xung quanh vật để tạo hình. Sử dụng đôi tay khéo léo, nhuần nhuyễn và các dụng cụ thô sơ như thanh tre vót mỏng, vòng tre, mảnh vải ướt để tạo hình cho sản phẩm.

Đồ gốm của dân tôc Ba Na

Sau bước tạo hình, chờ cho sản phẩm ráo bớt nước và khô dần, người thợ bắt đầu vẽ hoa văn bằng những que tre, que củi hoặc lông con nhím. Hoa văn cũng rất đơn giản, có thể là những vòng tròn xung quanh miệng nồi, ché, chõ, có thể là cỏ cây hoa lá cách điệu, có thể là các đường hình học đơn giản…Chờ cho sản phẩm khô thêm, người thợ chuyển sang bước đánh bóng. Việc đánh bóng mất khá nhiều thời gian và phải tỉ mẩn. Người thợ dùng hòn sỏi thật bóng chà xát liên tục lên bề mặt của sản phẩm để tạo độ bóng và láng. Một sản phẩm có thể chà nhiều lần, thậm chí 5 – 7 lần. Sau bước này, sản phẩm được phơi khô hoàn toàn trước khi nung. Người thợ chọn ngày nắng đẹp để nung gốm. Đa phần là nung gốm lộ thiên, không có lò.

Nghề gốm của đồng bào vùng Trường Sơn – Tây Nguyên đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền. Trước đây, hầu như nhà nào cũng sử dụng gốm cổ truyền chế tác thủ công nên người làm gốm được coi trọng. Ngày nay, gốm cổ truyền mất hẳn chỗ đứng cho nên không thể cạnh tranh với hàng nhựa rẻ tiền, hàng kim loại bền chắc hay các dòng gốm hiện đại khác. Người thợ làm gốm bỏ dần nghề và dẫn đến mai một. Hiện nay, xã Yang Tao, huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk chỉ còn vài người làm gốm, chủ yếu bán cho một số người già trong buôn có thói quen dùng gốm cổ truyền hoặc bán cho vài khách du lịch ngang qua làng. Nghệ nhân làm gốm ở làng Ka Noonh, huyện Tây Giang cũng chỉ còn một vài người biết nghề nhưng nhiều năm nay cũng không làm ra sản phẩm gốm nào.

Sản phẩm gốm của người Cơ Tu

Việc bảo tồn nghề làm gốm cổ của đồng bào các dân tộc vùng Trường Sơn – Tây nguyên là quan trọng và cấp thiết đòi hỏi nỗ lực của nhiều cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ văn hóa, bản sắc của các tộc người để không đánh mất đi phần hồn trong sản phẩm gốm cổ truyền.

                                                                      T.V