Nghề khai thác dầu rái ở Quảng Nam

Cây dầu rái

Từ sự chi phối của điều kiện địa lý tự nhiên đa dạng và khắc nghiệt mà dải đất miền Trung chứa đựng nhiều nguồn sản vật rất phong phú. Ở vùng núi đầy sơn lam chướng khí, con người đã biết khai thác, sử dụng những sản vật quý giá đó để phục vụ đời sống một cách thiết thực. Dưới thời Nguyễn, đã có lệ nộp thuế sản vật và quy định Nhà nước thu mua các sản vật, hàng thủ công đặc biệt quan trọng, giúp bao tiêu, điều phối thị trường. Từ đó, cả lệ làng cho đến phép nước đều định hình nên những lệ tục, tập quán pháp và những bộ luật, tác động tích cực cho việc bảo vệ, nuôi trồng, khai thác, vận chuyển, sử dụng… các nguồn sản vật đó một cách lâu dài, ngày nay thường gọi là phát triển bền vững. Chính những ngành nghề thủ công đặc biệt được hình thành từ việc khai thác nguồn sản vật đó đã giúp nối kết vùng miền, thúc đẩy các mối quan hệ giao thương trao đổi cũng như làm giàu thêm nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đặc trưng ở các địa phương. Trong bài viết này, chúng tôi muốn giới thiệu nghề khai thác dầu rái xưa ở miền Trung và miền Nam, từ một văn bản cụ thể ở trường hợp miền núi Quảng Nam.

Cây dầu rái là tên gọi dân gian, còn có tên chữ là du mộc, tên khoa học là Dipterocarpus alatus. Những hộ chuyên nghề lấy dầu rái trên miền thượng du phải đục hai hoặc ba lỗ ở gần gốc cây, đốt lửa vào đó để cho dầu chảy ra rồi múc theo giờ nhất định thì dầu cứ chảy mãi. Người ta dùng dầu rái để trát ghe thuyền, thúng mủng và dùng làm đèn đuốc, mang lại rất nhiều lợi ích. Sách Võ bị chí gọi đây là Mãnh hỏa du, ở các tỉnh đều có.(1)

Tham chiếu điển chế nhà Nguyễn quy định lệ nộp dầu rái ở các địa phương thì đây là một sản vật nổi tiếng của núi rừng đất phương Nam. Từ năm Canh Tuất [1790], đã có lệnh cho hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn mộ người lập các nậu biệt nạp, như Nậu dầu rái (tên chữ Hán là Mãnh hỏa du, có nghĩa là bắt lửa rất mạnh), mỗi người mỗi năm nộp 8 vò; rồi lần lượt là nậu dầu trám 800 cân/ người, đèn nến lớn 1 cây dài 4 thước/ người (lưng tròn 1 thước 2 tấc), nến nhỏ 40 cây/ người; nậu mây sắt mây nước 14.000 sợi/ người (mỗi sợi dài 7 thước, bề ngang 3 phân); nậu lá buông 4.000 lá/ người; nậu buồm lá 80 bó/người; thuế thân thì nộp theo lệ thường, dao dịch đều miễn).(2)

Ở Phú Yên có bốn thôn Phúc Lâm, An Xuân, Phú Đa, Phú Mỹ, nộp thuế 80 cân/ người/ năm, nhựa trám 40 cân, người già cả tàn tật chịu một nửa. Riêng vùng Gia Định, Biên Hòa, mức thuế cao hơn tới 120 cân/ người/ năm, nhựa trám 70 cân; cao nhất là ở thôn Lại Sơn (Hà Tiên) lên đến 170 cân/ người/ năm.(3) Riêng ở Quảng Nam, mục Sản vật trong Đồng Khánh địa dư chí nhấn mạnh những thổ sản về dầu nước, như ở các làng Nhân Thọ, Miêu Bông, Quá Giản (huyện Diên Phước); Tổng An Lễ (Duy Xuyên) có dầu rái (Mãnh hỏa du) đủ dùng đủ bán; các làng xã như Trung Phước, Nghi Lộc Trung (Quế Sơn).(4)

Khi khảo sát các nguồn tài liệu về lịch sử văn hóa Quảng Nam ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (thành phố Đà Lạt), chúng tôi tiếp cận được một văn bản quan trọng có liên quan đến nghề khai thác dầu rái ở miền núi Quảng Nam đầu thế kỷ XIX. Đó là tờ đơn trình đề ngày 14.11.1934 của bà con hai làng Trung Đạo và Trước Hà ở tổng Đức Hòa Thượng (Đại Lộc, Quảng Nam) gửi đến Viện Dân biểu Trung kỳ xin được miễn giảm tiền lệ phí giấy phép khai thác dầu rái do đời sống ngày càng khó khăn.(5)

Theo đơn trình bày thì người dân hai làng Trung Đạo và Trước Hà sinh sống ở miền sơn cước, đất ruộng ít ỏi mà dân số đông đúc, không đủ sinh nhai nên dân làng phải vào rừng khai thác dầu rái. Đây lại là một ngành nghề phải chịu nhiều lao khổ, đến mức khó có thể mô tả hết một cách cụ thể. Trong cơ chế quản lý và thu thuế đầu nguồn, các tuần chính là đơn vị quản lý nhà nước quan trọng thời phong kiến, trong vai trò cửa ngõ thông thương giữa miền xuôi và miền ngược. Thuế tuần ty là nghĩa vụ mà đội ngũ thương nhân (các lái) phải đóng cho nhà nước, căn cứ vào tần suất, số lượng và chủng loại, chất lượng hàng hóa chuyên chở qua về các tuần. Ở đây, giấy phép vào rừng khai thác dầu rái được hệ thống tuần ty cấp cho các lái buôn ở miền núi Quảng Nam, từ đó họ lại thuê dân phu sơn tràng trong vùng vào rừng làm dầu rái. Điều đáng nói là vùng nguyên liệu khai thác dầu rái thuộc cương vực, sơn phận của các tộc người thiểu số bản địa nên để đảm bảo quan hệ hòa hiếu và tranh thủ được tri thức bản địa của họ, hàng năm, người Kinh phải thuê trở lại những người miền núi mới dám vào làm. Nếu không, họ phải đối diện với vô vàn những nguy cơ, thậm chí là thiệt hại nặng nề như bị đâm chém hoặc bị thuốc chết… Do vậy, những người dân sơn tràng đi khai thác dầu rái vì sanh kế nên bất đắc dĩ phải mạo hiểm vào nơi hổ huyệt, một phần vì sợ những người miền núi tàn hại, lại thêm nỗi lo sợ các loài ác thú rình rập. Ngoài những nguy cơ như vậy, người làm nghề dầu rái phải chịu trăm điều khó nhọc cùng cực. Vào rừng, họ phải dựng trại ở trong núi. Từ sáng sớm, họ ăn một bữa no rồi mới cất bước đi làm việc. Họ đi từ núi này sang núi nọ, qua nhiều ghềnh dốc khó khăn, đầy gian nan, đến mức chân mỏi bụng đói, mãi tới tối mịt mới được về trại. Công việc nặng nhọc như vậy mà phải khoảng 7 ngày mới khai thác được một thùng dầu và gặp khi trời nắng dầu tốt nếu được giá, mỗi thùng họ có thể được 1đồng 50, nhưng gặp khi trời mưa thì có nhiều thiệt hại, giá lại rẻ, khi mỗi thùng họ chỉ cho được 1 đồng hoặc 80 xu, có khi chỉ 70 xu. Cũng do cực khổ, nặng nhọc như vậy mà người khai thác dầu rái cứ đi làm 7 ngày phải nghỉ 7 ngày, nên mỗi tháng họ chỉ thực làm việc được hai kỳ, mỗi kỳ 7 ngày. Theo lệ định từ trước thì các quan cấp giấy phép cho người vào rừng khai thác dầu rái nhưng đến thời điểm này, vị tân quan đã tuyên bố “luật đã định, bất kỳ người nào, hễ vào núi lấy lâm sản phải lãnh giấy phép 5 đồng”. Chính bởi mức lệ phí cho giấy phép này quá cao nên người dân khai thác dầu rái ở Đại Lộc đã ví họ như những cu li làm thuê cho các lái, sẽ khó có thể chấp nhận được, làm cho cuộc sống càng khốn khó. Người dân làm thuê cho các lái trong nghề dầu rái được trả tiền công hàng tháng, may lắm cũng đủ chi phí cơm áo thì không biết lấy tiền đâu để mua giấy phép, nên trong suốt hai tháng 8 và tháng 9.1934, họ không dám vào rừng làm nghề dầu rái mà chỉ quanh quẩn ở nhà chịu đói rét: “Chúng con là dân ngu hèn ngắn cổ kêu không thấu, không tiền lãnh giấy, đành khoanh tay mà chịu cơ hàn, nghĩ thật là khổ”, cho nên “xin nhờ lượng rộng của viện soi xét cho nỗi khổ dân nghèo ở chốn thâm sơn, nài xin Chánh phủ cho chúng con khỏi mua giấy phép, chỉ bọn lái có giấy thôi còn chúng con chỉ lãnh một cái giấy phép vào rừng như mấy quan trước đã cho như thế. Nếu được như thế, chúng con đội ơn muôn đời không quên”.

Ở cuối văn bản có ghi chú 36 người ký tên điểm chỉ. Nội dung văn bản, ngoài việc đề cập đến người dân hai làng chuyên khai thác dầu rái ở Đại Lộc, còn cung cấp nhiều thông tin liên quan đến mối quan hệ giữa miền trung du và sơn phận miền núi tỉnh Quảng Nam thông qua hệ thống tuần ty, cụ thể là về đời sống sơn tràng ở Đại Lộc, nhất là với nghề khai thác dầu rái từ miền ngược để thiết thực phục vụ cho đời sống của người miền xuôi, điển hình là đối với ghe thuyền vùng sông nước. Xem xét vấn đề này trong sinh cảnh miền núi và trung du xứ Quảng, có thể coi di sản ngành nghề thủ công gắn liền nguồn tài nguyên lâm thổ sản là rất quan trọng, chứa đựng nhiều giá trị kinh tế và văn hóa đặc trưng qua các thời kỳ của một vùng đất. Từ cuối thế kỷ XIX, tổng Đức Hòa Trung thuộc huyện Hà Đông, còn tổng Đức Hòa Thượng lại thuộc huyện Hòa Vang, có 23 xã thôn là An Mỹ Hạ, Tích Phú, La Đái, Hòa Duân, Ái Nghĩa, An Hoài, Đức Hòa, Phiếm Ái, Đại An, Đại Lợi, Bàng Trạch, Phú Hương, Hoằng Phước, Hà Điền, Trúc [Trước] Hà, Trung Đạo, Mậu Lâm, An Thịnh, An Mỹ Thượng, Long Phú, Tiên Sơn Tây, Phương Thới, Tiên Sơn Đông.(5) Do địa bàn rộng lớn, địa hình đa dạng nên tháng 9/ Canh Tý (Thành Thái thứ 12 – 1900), nhà Nguyễn cho đặt thêm huyện Đại Lộc trên cơ sở trích từ huyện Hòa Vang 49 xã thôn thuộc 3 tổng Đức Hòa, An Phước, Phú Khê; trích 58 xã thôn thuộc hai tổng Đại An, Mỹ Hòa, 2 châu phường thuộc tổng Phú Mỹ và xã Phú Thứ Thượng huyện Quế Sơn. Huyện Đại Lộc được xếp vào loại nhiều việc, tất cả có 5 tổng 110 xã thôn phường ấp, huyện lỵ đặt ở địa phận châu Đông Lâm, quan lại chiểu theo lệ các huyện bổ nhiệm. Sở dĩ có sự chia đặt mới đơn vị huyện Đại Lộc là bởi Tổng đốc Nam – Ngãi Nguyễn Hữu Thảng qua khảo sát thực tế, cho rằng phủ Điện Bàn trong tỉnh Quảng Nam địa thế rộng lớn, với 10 tổng và 226 xã thôn, nên cắt giao để lập nên huyện mới cho phù hợp. Hơn nữa, các tổng thuộc huyện Hòa Vang lên đến tất cả 285 xã thôn nên việc đốc thúc sưu thuế đinh điền có nguy cơ bị chậm trễ.(6)

Văn bản tuy ngắn ngủi, nhưng chứa đựng nhiều thông tin lịch sử và văn hóa quan trọng đối với vùng đất miền núi Quảng Nam – Đại Lộc nói chung và di sản ngành nghề thủ công khai thác dầu rái nói riêng. Đây là những nội dung đặc trưng, rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, bổ sung tài liệu, hiện vật cho bảo tàng xứ Quảng, nhất là trong lĩnh vực ngành nghề thủ công khai thác các nguồn lợi lâm thổ sản vốn rất phong phú trên mảnh đất này.

                                                                                                       P.T.T.B

(1)  QSQ triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí (bản dịch Hoàng Văn Lâu), H.: Nxb. Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, tập 1, tr. 281.

(2) QSQ triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (bản dịch của Viện Sử học), tập I, H.: Nxb. Giáo Dục, bản dịch của Viện Sử học, tr.263.

(3) Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ (bản dịch của Viện Sử học), Huế: Nxb. Thuận Hóa, tập IV, tr. 387-388.

(4) QSQ triều Nguyễn (2003), Ðồng Khánh địa dư chí (Ngô Đức Thọ d.), H.: Viện Viễn Ðông Bác Cổ Pháp, Trường Cao học Thực hành Pháp & Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Phần tỉnh Quảng Nam, tài liệu chưa xuất bản, tr.1448, 1454, 1458, 1464, 1470.

(5) Hồ sơ 4256/RSA, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV.

(5) (5) QSQ triều Nguyễn (2003), Ðồng Khánh địa dư chí (Ngô Đức Thọ d.), Tlđd, tr. 1460, 1472.

(6) QSQ triều Nguyễn (2011), Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên [Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu], S.: Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 352-353).