Hệ thống đình làng ở Phú Ninh – Những nhân chứng lịch sử

Đình Chiên Đàn

Cùng với quá trình định cư của người Việt, đình làng – một thiết chế văn hóa đặc trưng của làng xã Việt Nam cổ truyền cũng lần lượt được tạo lập trên vùng đất Phú Ninh xưa. Tiếc thay trong quá trình điền dã, chính tôi chỉ tìm thấy tư liệu truyền miệng và thành văn của 6 ngôi đình (Chiên Đàn – Đàn Trung), Thành Mỹ, Phú Xuân (Tam Phước), Khánh Thọ Đông (Tam Thái), Dương Đàn (Tam Dân); ba đình làng Khánh Thọ Tây (Tam Thái), Long Sơn (Tam Dân) và Ba Xã (Tam An) chỉ còn trong những mảng ký ức của các bậc cao niên. Vì thế, việc khôi phục diện mạo và giá trị của các ngôi đình trên địa bàn Phú Ninh xưa là cần thiết, thể hiện sự tri ân của thế hệ hôm nay đối với các bậc tiền nhân đã khai canh, lập làng.

  1. Đình Chiên Đàn (thôn Đàn Trung, xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh)

Đình Chiên Đàn là một trong những công trình kiến trúc cổ lớn nhất và được xây dựng sớm nhất (thế kỷ XV) ở Quảng Nam còn lại cho đến ngày nay. Đình thờ Thành hoàng, tiền hiền (họ Ung), hậu hiền (họ Phan, Nguyễn, Đống, Võ, Cao…), và những bậc khai canh lập nên xã Hiệu Chiên Đàn. Tọa lạc tại một vùng đất nổi danh với nhiều vị anh hùng, khoa bảng nên quy mô và các chi tiết trang trí trong đình đều rất nổi bật: “từng chi tiết kiến trúc gợi lên bao vẻ tài hoa của bàn tay nghệ nhân mộc Kim Bồng, Văn Hà thuở trước. Tất cả được chạm khắc tỉ mỉ, công phu như muốn lưu lại cho đời sau những tiêu chuẩn thẩm mỹ đặc sắc từng một thời thông dụng” [1; tr. 85]. Giống như nhiều ngôi đình khác trên đất Quảng Nam, đình hình chữ Nhất, nằm trên một khu đất cao, bằng phẳng, mặt tiền ở hướng Đông Nam. Muốn vào đình phải qua một cổng tam quan được trang trí bằng kỹ thuật đắp nổi, tô màu. Đình có kết cấu 5 gian 2 chái, với 30 cột bằng gỗ mít, đường kính cột lớn nhất là 40,28cm (cột cái) và cột nhỏ nhất là 37 cm (cột hiên) [2; tr. 94]. Trước điện thờ có gắn ba bức hoành phi; bức ở gian bên trái là: “Thừa Kỳ Hậu” góc dưới là “ Chiên Đàn Xã Đình” và “Kỹ Mão Xuân”; bức hoành phi “Trạc Khuyết Linh” nằm ở gian giữa, góc dưới là “Long Phi Tân Mùi”; bức hoành phi bên phải có dòng chữ “Quan Ư Tiền”. Bên phải sân đình là nhà trù – nơi nghỉ ngơi của dân đinh khi canh gác vào ban đêm; bên trái là nhà kho đựng lúa và tài sản của xã Chiên Đàn. Nhà Võ ca được xây dựng phía trước cổng tam quan có mái che lớn để phục vụ diễn võ và ca hát cho người xem trong ngày lễ hội (nay chỉ còn lại dấu vết hai trụ). Hàng năm, dân làng Chiên Đàn thường tổ chức lễ hội tại đình vào rằm tháng Giêng và rằm tháng Bảy.

Không chỉ là một công trình văn hóa tâm linh, đình Chiên Đàn còn ghi dấu ấn đậm nét phong trào yêu nước chống Pháp. Tại đây, vào ngày 13.7.1885 đã diễn ra lễ Hiệu triệu sĩ phu yêu nước tham gia chống Pháp trong phong trào Nghĩa hội Quảng Nam. Đến đầu thế kỷ XX, cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng thường tổ chức các cuộc diễn thuyết tại đình. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đình Chiên Đàn là trụ sở của Ủy ban nhân dân lâm thời xã Chiên Đàn. Đến năm 1949, khi sáp nhập vào xã Tam An, Ủy ban kháng chiến hành chính xã Tam An dời về trú tại các thôn trong xã, đình Chiên Đàn được giao cho dân quân tự vệ xã Tam An quản lý.

Do tác động của thời gian và chiến tranh nên đình bị hư hại khá nhiều. Để bảo tồn không gian sinh hoạt văn hóa này, chính quyền đã nhiều lần tiến hành trùng tu vào các năm 1932, 1955, 1967, 1972, 1996 và gần đây nhất là năm 2005. Rất may là phần kiến trúc gỗ và mái ngói âm dương của ngôi đình vẫn được lưu giữ tương đối nguyên vẹn. Với những giá trị đặc sắc về kiến trúc và quy mô, thể hiện ý thức cộng đồng của người dân Chiên Đàn xã, ngày 15.08.1997, đình Chiên Đàn được UBND tỉnh Quảng Nam ra quyết định bảo vệ di tích và ngày 30.12.2002 được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích “Kiến trúc nghệ thuật” cấp quốc gia.

  1. Đình Thành Mỹ (thôn Thành Mỹ, xã Tam Phước, huyện Phú Ninh)

Thành Mỹ là một trong những ngôi đình được xây dựng từ khá sớm (khoảng thế kỷ XVII) tại làng Thành Mỹ, tổng Vinh Quý, phủ Tam Kỳ. Theo lời kể của các vị cao niên thì trước kia ngôi đình được xây dựng bằng tre trên “núi Trọc”. Tuy nhiên, xuất phát từ niềm tin tâm linh sâu sắc, các hương hào, lý trưởng, hương mục chủ chốt cùng với những người có uy tín trong làng đã quyết định chuyển dời và xây dựng lại đình tại vị trí hiện nay. Được sự đóng góp của ông Võ Bá Văn và Võ Bá Bỗng – hai phú hào giàu có nhất làng cũng như sự tự nguyện giúp sức của toàn thể dân làng nên quy mô đình Thành Mỹ là rất lớn như câu nói:“Nhất La Qua, nhì Thành Mỹ, ba Chiên Đàn”.

Để xây dựng đình, người Thành Mỹ sử dụng những nguyên vật liệu thuộc vào loại tốt nhất thời bấy giờ. Đá ong xây tường phải ba người khiêng, đá tán cột bốn người khiêng, cột cái hai mươi người, cột con tám người khiêng mới xuể. Bên cổng đình, các bậc Nho học của làng đã đề tạc hai câu đối: “Thành âm thảo y quan địa/ Mỹ hóa ba truyền lý nghĩa môn(Đất Thành Mỹ chứa âm khí và tâm linh mạnh, có nhiều nhân vật nổi tiếng/ Đất Thành Mỹ hóa ra nhiều con người có hào khí, khẩu khí hơn người). Điểm nhấn nổi bật nhất của đình là đại đình hình chữ Nhất, theo hướng Đông Bắc gồm 5 gian 2 chái, có 38 cột bằng gỗ mít. Ngoài ba gian giữa phụng thờ Thành hoàng, các bậc tiền hiền, hậu hiền thì trong đình còn có phần hậu tẩm thờ các vị thần bổn sứ trong đó “thần huyền” là những người bị ép buộc chết và thần “thái huyền” là những người tự tử, chết ỉu. Phía dưới đình có nhà “Hương hội” là nơi để tụ tập làm tiệc khi mở hội làng, bên phải có Miếu Ông, bên trái là Miếu Bà. Vào rằm tháng Ba, tháng Bảy hằng năm đình có tổ chức hội làng và ngày mồng 1 đến mồng 4 Tết là tổ chức rước sắc. Sắc do nhà vua ban được cất giữ tại nhà thủ sắc.

Sau Cách mạng tháng Tám, đình Thành Mỹ trở thành nơi sinh hoạt học tập cho cán bộ xã, huấn luyện dân quân tại địa phương, tập du kích, và cũng là nơi đóng quân của bộ đội tỉnh và Liên khu V. Tháng 7.1969, chính quyền Mỹ – Ngụy đã quyết định phá hủy ngôi đình. Theo tư liệu truyền miệng thì để đốt cháy ngôi đình, chính quyền Mỹ – Ngụy đã dùng dầu tẩm vào các cột đình nhưng phải đến 3 tháng đình mới cháy hết. Điều này đã phần nào cho chúng ta hình dung về quy mô của đình Thành Mỹ vào thời điểm đó.

Sau khi bị phá hủy, đình Thành Mỹ chỉ còn lại duy nhất “cổng đình” và mấy viên đá tảng cột. Sau nhiều nỗ lực, với mong muốn phục dựng lại một biểu tượng văn hóa quan trọng của làng, vào cuối năm 2017, người Thành Mỹ đã khánh thành đình Thành Mỹ mới như một minh chứng cho quá trình giữ gìn, tiếp nối văn hóa truyền thống của làng.

  1. Đình Phú Trà (thôn Xuân Phú, xã Tam Thái, huyện Phú Ninh)

Đình Phú Trà do các tộc Phan, Lê, Trần (tiền hiền của làng) xây dựng đầu tiên tại Gò Làng (nghĩa địa Gò Trời ngày nay) để thờ các vị tiền hiền đã có công khai lập làng, và cũng là nơi lưu giữ các sắc phong của vua ban cho những người đỗ đạt trong vùng. Do tác động của thiên nhiên cũng như thời gian, ngôi đình thứ nhất đã sụp đổ. Mãi đến năm 1854 (Tự Đức lục niên), ngôi đình mới được di dời và xây dựng tại địa điểm hiện nay, do Thiết thủ Phan Văn Tịnh, lý trưởng Phan Văn Hòa, hương mục Phan Văn Du, cùng các vị chức sắc khác đóng vai trò chủ công. Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, đình chính nằm ở hướng Đông Nam là một tòa nhà lợp ngói âm dương, gồm hai lớp: lớp dưới đặt trên đòn tay là loại ngói liệt (ngói phẳng). Đình gồm ba gian không có chái, vì vậy hai đầu hồi được xây tường dày 38 cm bằng chất liệu địa phương (đó là đá núi trộn vôi). Tiếp với đình chính là máng xối nối với hậu tẩm cũng được xây dựng bằng vôi trộn với mật đường để thoát nước giữa hai mái. Hệ thống cột đỡ và điêu khắc trong đình là một trong những ví dụ điển hình cho nghệ thuật điêu khắc dân gian truyền thống của người Việt ở Quảng Nam. Hàng năm, vào trung tuần tháng Bảy, làng tổ chức lễ “Kỳ Yên” và tế Thành hoàng tại đình với mong muốn dân làng được ấm no, khỏe mạnh và gặp nhiều may mắn.

Toàn cảnh đình Phú Trà

Đến năm 1945, toàn bộ các sắc phong cũng như vật lễ tế thờ trong đình bị mất hoàn toàn do chiến tranh loạn lạc, chỉ còn lưu giữ được tấm bảng gỗ khắc tên những vị đứng ra xây dựng lại đình Phú Trà (tấm bảng khắc gỗ này được ông Phan Chúc, hậu duệ tộc Phan lưu giữ tại nhà). Trong chiến tranh, đình được dùng làm nơi chứa lương thực và là nơi tập luyện quân sự của dân quân du kích địa phương. Sau ngày giải phóng do sự tàn phá của thiên tai, bão lụt nên ngôi đình bị hư hỏng nhiều. Năm 1999, đình bị đổ, hư hỏng nặng, chỉ còn lại một vài phần chạm khắc, đặc biệt phần chạm khắc bộ phận trỏng quả cũng như phần trính lận ở gian hậu tẩm và phần ván nêm đỡ bằng tay mái hiên chỉ còn lưu giữ một tấm. Năm 2016, dân làng Xuân Phú với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương đã phục dựng lại ngôi đình với quy mô nhỏ. Ngày 13.10.2017, UBND tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định số 152 xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với đình Phú Trà như một sự ghi nhận những giá trị văn hóa lịch sử của ngôi đình này.

  1. Đình Khánh Thọ Đông (thôn Khánh Thọ, xã Tam Thái, huyện Phú Ninh)

Đình Khánh Thọ Đông nằm ở thôn Khánh Thọ, xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, cách trung tâm thành phố Tam Kỳ 8 km về phía Tây Bắc. Theo lời kể của các cụ già trong làng thì đình làng Khánh Thọ Đông được xây dựng vào năm 1802, tọa lạc trên khu đất rộng. Bên trái sân đình là nhà Hương hội dùng để hội họp và trực phiên, chạy trác, canh gác và nghỉ ngơi của dân đinh; bên phải sân đình là ngôi Miếu Bà. Đình xoay mặt về phía Đông Bắc phía trước là cánh đồng bầu sen trù phú. Phía Tây Bắc có dòng suối Cái bao bọc quanh như một cánh cung tạo cho thế đứng của đình thêm uy nghi và duyên dáng.

Từ năm 1927, đình là nơi liên lạc, hoạt động của nhóm Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội Phủ Tam Kỳ. Tháng 8.1933, chi bộ Khánh Thọ Đông – Khánh Thọ Tây – chi hội Cộng sản đầu tiên của xã Tam Thái, gồm ba đảng viên là Khưu Thúc Cự, Phan Nhung, Đào Quang Hiển do đồng chí Khưu Thúc Cự làm Bí thư, được bí mật thành lập tại đây. Sau Cách mạng tháng Tám, đình được sử dụng làm nơi sinh hoạt đoàn thể và dạy học. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, để phục vụ cho các lớp huấn luyện từ tỉnh xuống xã; hệ thống hầm, hào được đào xung quanh đình. Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết (1954), ngụy quyền xã Kỳ Nghĩa đã tháo dở chính điện lấy gỗ ngói làm trường tiểu học ngay trên nền chùa làng cũ. Đầu năm 1955, Ngụy quyền khu Tây chiếm dụng nhà Hương hội, sử dụng lớp học của trường tiểu học (lớp 4) làm trụ sở lâm thời và từ đây chúng thực hiện chế độ lùng sục, bắt giam cán bộ chính trị, những người tham gia hiệp thương và nhân dân tra tấn rất dã man. Vì thế, mặc dù hiện nay, đình chỉ còn là phế tích nhưng người dân địa phương luôn mong muốn ngôi đình được phục dựng để người dân được tỏ lòng tri ân đối với những người con Phú Ninh đã hy sinh trên mảnh đất này.

  1. Đình Quý Xuân (thôn Phú Xuân, xã Tam Phước, huyện Phú Ninh)

Đình Quý Xuân (Phú Xuân) tọa lạc tại xã Quý Xuân, tổng Vinh Quý, phủ Tam Kỳ trên vùng đất linh thiêng, cao ráo, phía sau là cả một “rừng Chò” san sát. Vào năm Mậu Thìn (1928), để nhớ công đức của các tiền hiền, dưới sự vận động của ông lý trưởng Dương Đình Tú, đình chính thức được khởi công. Đình phụng thờ Thành hoàng làng, tiền hiền (họ Dương) và hậu hiền (họ Huỳnh). Trước kia, dân làng tổ chức lễ tế vào ngày rằm tháng Giêng, nhưng nay chuyển vào ngày 10 tháng Giêng và gọi là lễ “tế Xuân”. Về kiến trúc đình Quý Xuân cũng do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đến từ làng mộc Văn Hà (Tam Thành, Phú Ninh) tạo dựng. Qua thời gian bị hư hại, đình được sửa chữa, trùng tu với quy mô nhỏ hơn xưa. Đến năm 1960, khi quân Mỹ chiếm đóng và thực hiện những cuộc càn quét trên quy mô rộng, đình Quý Xuân cũng bị tàn phá chỉ còn lại nền đình. Sau ngày giải phóng đất nước, dù kinh tế khó khăn bề bộn, nhưng với tinh thần gắn kết cộng đồng, lòng tri ân sâu sắc đối với các bậc tiền nhân, nhân dân Quý Xuân bắt tay ngay vào xây dựng lại ngôi đình vào năm 1990. Đến năm 2004, được sự cho phép của các cấp chính quyền, bà con nhân dân trong thôn cùng Hội người cao tuổi, Ban nhân dân thôn Phú Xuân đã dốc sức quyết tâm tạo dựng lại ngôi đình. Mặc dù về quy mô, đình không còn nguyên gốc và bề thế như ngày xưa nhưng phần nào cũng thỏa mãn nhu cầu trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân địa phương.

  1. Đình Dương Đàn (thôn Dương Đàn, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh)

Đình Dương Đàn hiện tọa lạc tại thôn Dương Đàn, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, được xây dựng vào năm 1717 (cùng thời gian lập làng Dương Đàn). Trong thời kỳ kháng chiến, xung quanh đình, người dân đào giao thông hào kết nối với địa đạo Gò Thai – là nơi lực lượng cách mạng chọn làm nơi trú ẩn. Trong thời kỳ thống trị của chính quyền Mỹ – Ngụy, địch đã giam giữ những người hoạt động cách mạng tại ngôi đình này. Giai đoạn 1958 đến 1960, ngôi đình đã bị chính quyền Mỹ – Ngụy phá hủy. Sau ngày đất nước giải phóng, đình chỉ còn lại nền đình cũ mang đậm dấu vết thời gian. Năm 1977, nhân dân trong làng đã sử dụng những cấu kiện gỗ trước kia của đình Dương Đàn cùng những trụ gỗ, kèo…của những ngôi đình lân cận còn sót lại để phục dựng lại và là nơi sinh hoạt văn hóa của thôn. Hàng năm, vào ngày 16 tháng Giêng, dân làng tổ chức lễ cúng rất trang trọng và đến rằm tháng Bảy là lễ tế Thành hoàng với nghi lễ rước sắc độc đáo.

Mặc dù hiện nay, đình đã hư hại và được sử dụng với những mục đích khác, nhưng những bậc cao niên của làng vẫn đau đáu nỗi niềm về việc phục dựng đình để làm nơi trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ sau.

Như vậy, trong không gian của các làng xã cổ truyền ở Phú Ninh, đình làng đã trở thành dấu ấn văn hóa có chức năng và vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Không những thế, những ngôi đình còn lại cho đến ngày nay còn là những minh chứng hùng hồn của một vùng đất có bề dày văn hóa lịch sử. Vì thế, việc bảo vệ, trùng tu các di tích này là điều hết sức cần thiết nhằm giữ gìn các di sản văn hóa truyền thống, vừa là một hình thức để giáo dục lòng hào dân tộc cho các thế hệ trẻ hôm nay.

N.T.V.L

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phú Bình (2016), Dấu cũ Hà Đông, Trung tâm Quản lý di tích và Danh thắng Quảng Nam.
  2. Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam (2006), Di tích và danh thắng Quảng Nam, Công ty in và dịch vụ Đà Nẵng.
  3. Nguyễn Bá Thâm, Nguyễn Tấn Sĩ, Đỗ Xuân Phong, Nguyễn Huy Hoàng (2005), Phú Ninh – Đất và Người, tập I, Công ty in Quảng Nam.
  4. Nguyễn Bá Thâm, Nguyễn Tấn Sĩ, Ngô Mỹ, Nguyễn Đình Thảng, Nguyễn Huy Hoàng (2008), Phú Ninh – Đất và Người, tập II, Công ty CP in và Dịch vụ Đà Nẵng.
  5. Tư liệu điền dã.