Hệ khung liên kết các nhà thờ tộc ở phố cổ Hội An

Trong kiến trúc gỗ cổ truyền của người Việt, hệ khung liên kết là yếu tố quan trọng quyết định đặc trưng cũng như sự tồn tại của một công trình kiến trúc. Hệ khung đó được hình thành bởi các cấu kiện cột – xà – kẻ. Trong kiến trúc gỗ Hội An, hệ khung này được liên kết bởi hai cấu kiện chủ yếu là cột – kèo. Vậy trong kiến trúc nhà thờ tộc ở khu phố cổ Hội An, hệ khung này có đặc điểm gì?

Trong kết cấu bộ khung thì bộ vì đóng vai trò quan trọng nhất. Về cơ bản, bộ vì các nhà thờ tộc ở phố cổ Hội An có hai hình thức kết cấu, đó là kết cấu theo hình thức chồng rường mà biến thể của nó là chồng trính – trụ đội và kết cấu theo hình thức vì kèo với hai dạng là vì chồng và vì suốt, ngoài ra còn có vì vỏ cua đỡ phần hiên và vì giá chiêng ở nhà thờ tộc Trương Đôn Mục. Trong các loại vì kèo này, phổ biến là kiểu vì chồng và kiểu chồng trính con đội. Với nhà thờ tộc có mặt bằng hình chữ nhất thì bộ vì là vì chồng, còn nhà thờ tộc có mặt bằng hình chữ nhị thì ở nếp nhà phụ là kiểu vì trính chồng – trụ đội còn nhà chính là vì chồng.

Bộ vì kèo nhà thờ tộc Trương Đôn Hậu

Vì trính chồng – trụ đội gồm hai loại cấu kiện chính, liên kết với nhau vuông góc theo phương tung hoành. Đó là những thanh gỗ ngang gọi là trính/ rường có độ dài không bằng nhau, đặt song song cách đều nhau theo trật tự ngắn dần về phía nóc. Chúng được liên kết với nhau bằng những thanh gỗ đứng gọi là trụ đội (cột trốn) có kích thước như nhau. Chân trụ ăn mộng vào lưng trính dài phía dưới, thân trụ ăn mộng vào đầu trính ngắn phía trên và đầu trụ trực tiếp đỡ đòn tay trên mái. Như vậy đòn tay được đặt cố định trên mỗi đầu trụ đội và trọng lực của đòn tay tác động theo phương thẳng đứng(1)Tuy nhiên cần phân biệt giữa hình thức trính chồng – trụ đội ở Hội An và hình thức chồng rường giả thủ ở Huế. Về cơ bản, hai kiểu vì này giống nhau, đều là biến thể của kiểu liên kết chồng rường, gồm các con rường gối lên nhau. Nhưng điểm khác nhau ở chỗ ăn mộng giữa cột trốn (trụ đội, giả thủ và cách thanh rường). Với vì trính chồng – trụ đội, các trụ đội ăn mộng vào trong con rường; còn vì chồng rường giả thủ, các con đội ăn mộng ngay đầu các con rường, tạo dáng giống hình hai cánh tay giơ lên nên gọi là giả thủ, ở Hội An hiện nay và trong một số tài liệụ nghiên cứu thường nhầm lẫn tên gọi hai kiểu vì này.

Trở lại với bộ vì trính chồng – trụ đội tại nhà thờ tộc, phần lớn gồm có ba trính và năm trụ đội, được tạo dáng mềm mại và chạm trổ khá tỉ mỉ (trừ bộ vì nhà thờ tộc tộc Trần), một số trụ đội phần dưới tạo hình trái bí (nhà thờ tộc Phạm – 96 Trần Phú). Kiểu vì này có ưu điểm là giàu tính thẩm mỹ nghệ thuật nhưng khả năng chịu lực không lớn nên dùng để tạo bộ khung cho nếp nhà phụ (phần tiền sảnh).

Bộ vì thứ hai được sử dụng phổ biến trong các nhà thờ tộc ở Hội An là vì chồng. Bộ vì này được được sử dụng cho phần chính tẩm của nhà thờ tộc. Đây là bộ vì được liên kết với nhau bởi nhiều đoạn kèo theo nguyên tắc: đầu đoạn kèo dưới gác lên đuôi đoạn kèo trên và đầu của hai đoạn kèo liên kết với nhau tại đỉnh nóc, gọi là giao nguyên. Ở đầu và đuôi kèo được trang trí rất đẹp. Các kèo này được gọi tên là kèo lòng nhất tiền – hậu ứng với cột hàng nhất, kèo lòng nhì tiền – hậu ứng với cột hàng ba (cột con). Đỡ kèo ở vị trí giao nguyên là cột trốn, cột được gọi là trụ tiêu, có trang trí ấp quả ở trên và đặt trên đấu gỗ gọi là đế tôm. Ấp quả thường được thể hiện hình dáng đôi cánh chim bay tại đầu trụ tiêu. Đế tôm có hình số 3 nằm ngửa, chỗ cong vòng lên đỡ trụ tiêu, hai điểm võng xuống áp vào trính. Các vì liên kết với nhau qua hệ thống đòn tay, xuyên(2). Thông thường, trính nằm trên xuyên, rất ít gặp trường hợp xuyên trên trính (nhà thờ tộc Lâm, Tăng, Trần).

Ngoài vì chồng và vì trính chồng – trụ đội thì vì luôn cũng được sử dụng nhưng rất ít, chỉ có nhà thờ tộc Lê Doãn, một số nhà thờ tộc khác, kết cấu vì kèo theo kiểu kèo tiền là kèo chồng còn kèo hậu là kèo suốt như nhà thờ tộc Tạ. Vì luôn là vì kèo đơn giản, được làm từ các thanh gỗ liền, sử dụng hệ thống hai tay kèo dài, một đầu liên kết với nhau tại đỉnh nóc. Trong nhà gỗ Hội An (kể cả nhà thờ tộc), vì luôn thường chỉ nằm trên mỗi bên không quá hai hàng cột. Vì luôn chắc khỏe về liên kết cũng như khả năng chịu lực, nhưng đơn giản về tạo hình, tạo dáng và có giá trị nghệ thuật.

Vì vỏ cua cũng được dùng trong kiến trúc nhà thờ tộc nhưng ít, chỉ có nhà thờ tộc tộc Trần, Phạm, Lê Doãn, Phan là sử dụng bộ vì này. Vì thường đặt ở hiên, làm cho phần hiên được nâng lên, ánh sáng và không khí lọt vào sâu hơn trong nội thất. Bộ vì này mang ý nghĩa trang trí nhiều hơn công năng kiến trúc, được làm bằng một phiến gỗ nguyên khối và chạm thủng, chạm lộng các đề tài trang trí. Mặt khác, kiểu thức vì vỏ cua cũng tuân thủ nguyên tắc tạo mộng ăn với cột hàng ba và cột hàng hai ở hai bên theo chiều đứng và tạo mộng khớp với các đòn tay bên trên theo chiều vòm cong. Đây là bộ vì đặc trưng riêng của vùng Hội An cũng như Trung Trung bộ, là sáng tạo độc đáo của kiến trúc vùng này(3).

Một bộ vì nữa tuy không được sử dụng phổ biến trong kiến trúc nhà gỗ, nhưng trong kiến trúc nhà thờ tộc nó có tham gia góp mặt, tuy hiếm hoi và không được xem là bộ vì đặc trưng trong kết cấu khung gỗ của nhà thờ tộc cũng như các loại hình kiến trúc khác, nhưng trong phạm vi, sẽ nêu những điểm cơ bản của bộ vì này, vì nó thể hiện sự giao lưu giữa các yếu tố văn hóa. Đó là vì giá chiêng tại nhà thờ tộc Trương Đôn Mục. Vì giá chiêng này đã được đơn giản đi so với hình thức ban đầu của nó, gồm hai cột trốn đứng chân trên trính, đỡ một con rường ngắn hơn ăn mộng với kèo lòng nhất. Trính này ăn mộng với cột cái, dài ra ăn mộng tiếp với một cột trốn. Cột trốn và con rường từ trính này lại đứng chân trên một cột trốn và con rường khác. Cứ thế liên tục trong khoảng giữa cột hàng nhất và cột hàng ba. Ở Hội An biến thể của vì này là kiểu vì giá chiêng – chồng rường con nhị, kiểu vì duy nhất tại Hội An tại nhà số 117 Nguyễn Thái Học.

Kèo và khuôn bông nhà thờ tộc Tạ

Ngoài bộ vì, thì hệ thống đòn tay cũng là điểm đáng chú ý tại các nhà thờ tộc. Đòn tay hay thường gọi là hoành bao gồm hai loại: có tiết diện tròn và vuông, mà chủ yếu là tiết diện tròn. Tại vị trí đầu cột, có khi dưới đòn tay tròn người ta đặt thêm đòn tay vuông, được gọi là xà hoặc là đặt đòn tay vuông tại vị trí này. Trong kết cấu khung gỗ của nhà thờ tộc cũng như nhà gỗ Hội An, người ta rất chú ý đến khoảng cách giữa các đòn tay. Người ta tính khoảng số đòn tay cho kiến trúc theo các chữ: sinh, lão, bệnh, tử. Bắt đầu từ đòn đông ứng với chữ sinh, các đòn tiếp theo ứng với trật tự các chữ sao cho đòn tay cuối cùng đỡ bờ mái ứng vào chữ sinh hoặc lão, mà sinh là tốt nhất.

Cũng giống như các loại hình kiến trúc khác, hệ cột của nhà thờ tộc có tiết diện hình vuông và hình tròn mà chủ yếu là hình tròn, chỉ có nhà thờ tộc tộc Trần, tộc Tạ, tộc Tăng, Lê Doãn là bao gồm vừa cột tròn vừa cột vuông. Cột đứng chân trên đá tán gồm hai hoặc ba tầng: tầng dưới cùng là đá có hình vuông hoặc lục giác, tiếp đến là tầng lục giác nhỏ hơn (trong trường hợp này tầng dưới cũng phải là hình vuông, chỉ có nhà thờ tộc tộc Phạm (96 Trần Phú) có tầng này) và trên cùng là đá tán hình tròn giống hình quả bí được chạm trổ hoặc để trơn. Cột đỡ hoành tại vị trí đầu cột và trong bộ vì chính của nhà thờ tộc thường có hiện tượng trốn cột.

Trong các nhà thờ tộc cũng như các công trình kiến trúc gỗ khác ở Hội An, bộ khung liên kết không chỉ đóng vai trò quan trọng trong kết cấu chịu lực mà còn là thành phần được chú trọng trang trí mỹ thuật. Ở một số nhà thờ tộc như tộc Phạm, tộc Trương Đôn Hậu, bộ vì chồng trính – trụ đội được trang trí khá cầu kỳ, chi tiết. Không chỉ ở hai đầu các con rường, trên các cột trốn mà ở vị trí đầu cột trốn đỡ hoành cũng được gắn thêm hình lá cây ôm vào cột, vươn lên phía hoành, tạo cho cột không có cảm giác đơn điệu. Những chiếc cột trốn này cũng được tạo dáng, chạm khắc các hình khác nhau, có khi giống trái bí, có khi chỉ là hình khối thuôn nhọn hai đầu. Trên bộ vì này thường trang trí các hình hoa lá, mây nước, hình dơi, hình ngũ quả, hay bát bửu (quạt, thanh gươm, giỏ hoa, lọng, ống bút, cuốn thư, sáo, bầu rượu), chữ Hán. Đối với bộ vì chồng, ở hai đầu và đuôi kèo gác lên nhau cũng được trang trí chủ yếu là hình hoa lá cách điệu theo lối chạm nổi kết hợp chạm lộng. Ngay cột trốn đỡ đòn đông cũng được tạo dáng, thay vì chỉ là một cây cột vươn lên đỡ đòn đông thì nó được gắn thêm vào bộ phận đế tôm và ấp quả, trên chủ yếu là hình hoa lá hoặc hình hồi văn. Các ấp quả này vươn ra đỡ các thanh kèo, làm cho bộ vì càng thêm mềm mại.

Vì vỏ cua và bẩy hiên nhà thờ tộc Phan

Các bộ vì vỏ cua cũng chính là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Mặc dù số lượng vì vỏ cua tại các nhà thờ tộc không nhiều (Trần, Phạm, Lê Doãn, Phan) nhưng không vì thế mà đề tài kém phong phú. Đó là các đề tài hình hoa lá cách điệu, hình tia chớp giữa có bông hoa, hình đôi cá quay đầu vào nhau, xung quanh là các đường lượn cong sóng nước… Chính những hình trang trí này làm cho các vì vỏ cua mang tính trang trí nhiều hơn.

Bên cạnh đó, tại vị trí giao nhau giữa kèo và cột cũng được trang trí (từ địa phương hay dùng là con ke hoặc khuôn bông xuyên, khuôn bông trính), chủ yếu là trang trí khuôn bông xuyên. Đó là những hình dơi, hình ống sáo, bầu rượu. Đặc biệt phần bẩy hiên được chạm khắc khá công phu, gồm các hình cá chép, có khi chỉ là phần đuôi cá vươn lên đỡ thanh hoành cuối cùng, xung quanh trang trí các hình hoa lá cách điệu, hay như ở nhà thờ tộc tộc Tạ, ở phần bẩy hiên được tạo dáng đuôi cá chép, xung quanh là các hình lá cây, vòng tròn xoắn ốc và cả hình đầu của con lân, hay là hình giao long.

Ngoài gỗ ra thì các viên đá tán ở chân cột cũng được chạm khắc cầu kì để cho nhà thờ tộc thêm đẹp từ mặt đất. Các đề tài trang trí thường gặp là dạng hồi văn, dấu chấm nổi hoặc hình lá sen, lá đề.

Các nhà thờ tộc ở Hội An là công trình kiến trúc mang tính cộng đồng thể hiện sự giao lưu giữa các nền văn hóa một cách mạnh mẽ. Trước hết là sự kế thừa kiểu dáng kiến trúc truyền thống vùng Bắc bộ như bộ vì chồng nhưng dáng thanh mảnh, gọn gàng hơn. Có lẽ khi di cư vào nam, các thợ  mộc của làng Kim Bồng vẫn mang trong mình những ý niệm về quê hương, họ đem điều ấy đặt vào kiến trúc. Ngay cả cách gọi tên các cấu kiện kiến trúc vừa có tính dị biệt nhưng cũng có nhiều cách gọi tương đồng. Không chỉ giao lưu với văn hóa Việt, yếu tố Hoa cũng được thể hiện khá rõ nét trong các công trình kiến trúc mà theo nhà nghiên cứu Trịnh Cao Tưởng thì kiểu vì chồng rường là nét đặc trưng của kiến trúc vùng Hoa Bắc, kiểu kèo chồng là phong cách kiến trúc Hoa Nam(4) và cả các đề tài trang trí nghệ thuật như hình dơi, bát bửu… cùng phong cách trang trí cầu kì, tỉ mỉ. Mặc dù diễn ra sự giao lưu giữa các nền văn hóa nhưng về cơ bản các công trình này có khuynh hướng bảo vệ vững chắc các truyền thống vốn có của các cấu kiện theo xu hướng đem những kết cấu hoàn chỉnh, đặc trưng của mình, lắp ghép chúng lại với nhau và nỗ lực làm cho chúng có sự hài hòa(5)Chẳng hạn, tại phần tiền sảnh các nhà thờ tộc sử dụng bộ vì chồng trính – con đội, còn phần chính tẩm sử dụng kiểu vì luôn, chứ không gặp trường hợp “thượng rường hạ kẻ”, như trong kiến trúc ở Bắc bộ mà tập trung nhiều ở đình làng. Đó là một đặc điểm riêng biệt của Hội An.

Nằm trong khu phố cổ Hội An, mang những đặc trưng chung của kiến trúc khu phố cổ, đặc biệt là kiến trúc nhà gỗ, hệ khung liên kết của các nhà thờ tộc vừa thể hiện tính thống nhất, vừa thể hiện tính đa dạng. Mặc dù mang những đặc điểm chung của kiến trúc nhà gỗ Hội An nhưng nhà thờ tộc với tổng hòa các yếu tố từ không gian, bố cục, kiến trúc, mỹ thuật,… là một trong những công trình khá độc đáo góp phần làm cho diện mạo khu phố cổ Hội An trở nên phong phú.

N.T.N

Tài liệu dẫn:

(1), (3) Trần Ánh (2005), Nhà gỗ Hội An – những giá trị và giải pháp bảo tồn. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An, trang 81-82.

(2) Nguyễn Quốc Hùng (1995), Phố cổ Hội An và việc giao lưu  văn hóa ở Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, trang 66-67.

(4), (5) Trịnh Cao Tưởng (1991), “Tiếp xúc văn hóa ở Hội An nhìn từ góc độ kiến trúc”, Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, trang 321-322.