Bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người Xơ Đăng ở huyện Nam Trà My

Là một trong 6 huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, huyện Nam Trà My từ lâu đã được biết đến như một thủ phủ của vùng “cao sơn ngọc quế” với các loại cây đặc trưng như quế Trà My, sâm Ngọc Linh; là nơi cư trú từ lâu đời của các tộc người thiểu số như Xơ Đăng, Ca Dong, Mơ Nâm, trong đó tộc người Ca Dong chiếm số đông (chiếm

Nhà Rông Xơ Đăng. Ảnh: Tấn Vịnh

54,5% trong tổng số trên 28.000 người – năm 2017). Tộc người Xơ Đăng chiếm trên 35%, cư trú chủ yếu ở các xã Trà Nam, Trà Linh và Trà Cang. Trong lịch sử hình thành và phát triển, người Xơ Đăng đã tạo dựng ra các di sản văn hóa mang đậm dấu ấn vùng đất nơi đây, góp phần làm đa dạng và phong phú truyền thống văn hóa của huyện Nam Trà My cũng như của tỉnh Quảng Nam, đồng thời góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Tộc người Xơ Đăng trên địa bàn huyện hiện vẫn còn bảo lưu những đặc trưng văn hóa riêng, trong đó có thể kể đến như không gian làng; là các giá trị văn hóa vật thể (nhà làng, trang phục…) và các giá trị văn hóa phi vật thể như các lễ thức tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng: lễ mừng lúa mới, Tết mùa, lễ ăn trâu huê, lễ cúng máng nước, cồng chiêng… Trong những năm qua, các giá trị văn hóa của người Xơ Đăng, cũng như của các tộc người Ca Dong, Mơ Nâm bước đầu đã được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy trong định hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch Sâm và du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện.

Di sản văn hóa vật thể của tộc người Xơ Đăng, huyện Nam Trà My nhìn chung khá phong phú, đa dạng. Di tích lịch sử quốc gia Khu căn cứ Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu V (Nước Là); Ban cán sự miền Tây. Trong định hướng phát triển du lịch đến năm 2025 của huyện Nam Trà My, khu di tích Nước Là được coi là một điểm đến quan trọng. Di tích đang được triển khai việc tu bổ, phục dựng một số hạng mục như nhà ở và làm việc của Bí thư Khu ủy Võ Chí Công, đường dẫn lên khu di tích… Ngoài ra, một số danh thắng đang được khai thác phục vụ du lịch như: như thác Năm Tầng, suối Đôi, suối Nước Mưa, suối nước nóng Trà Don, thác TakChua, rừng Rốn, hệ thống sinh thái rừng nguyên sinh sông Tranh… Trong đó, thác Năm Tầng, xã Trà Mai nằm bên Quốc lộ 40G được xem là một trong những thác nước đẹp nhất, thuận tiện giao thông, là điểm đến của nhiều du khách. Bên cạnh đó, Khu bảo tồn thiên nhiên sông Tranh với hơn 3.000ha cùng các khu rừng dự trữ Nước Là, khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, hệ sinh thái rừng Ngọc Linh, suối nước nóng Tắk Tố, xã Trà Don; rừng tre khổng lồ, xã Trà Nam; khu trồng quế bản địa xã Trà Leng…

Trang phục lễ hội của thiếu nữ Xơ Đăng

Việc đầu tư hạ tầng để đưa các danh thắng trở thành điểm đến thu hút du khách đang được huyện Nam Trà My xúc tiến triển khai. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong văn hóa cư trú của người Xơ Đăng, giữa làng bao giờ cũng có nhà Rông, là công trình đẹp nhất, lớn nhất và thiêng liêng nhất, xung quanh là nhà ở của các hộ gia đình. Nhà Rông là nơi diễn ra các sự kiện của cộng đồng làng như lễ hội, hội họp, nơi Hội đồng già làng giải quyết, bàn bạc các sự kiện quan trọng; nơi đón tiếp khách và tổ chức các cuộc giao lưu; tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng truyền thống của cộng đồng… Bên cạnh đó, nhà Rông còn là biểu tượng sức mạnh của làng, gắn bó các thành viên trong cộng đồng. Người Xơ Đăng quan niệm, mái nhà Rông cao vút là nơi hội tụ khí thiêng của trời đất, nơi lưu giữ những giá trị tinh thần thiêng liêng nhất của làng, nơi con người gửi gắm niềm tin của mình đối với thần linh.

Để thu hút và giữ chân du khách, việc bảo tồn giá trị các kiến trúc liên quan đến văn hóa ở của người Xơ Đăng cũng cần được quan tâm. Đó là kiến trúc liên quan đến không gian cư trú, gồm các mô hình làng, nóc và nhà Rông; qua đó, du khách có thể cảm nhận, nghiên cứu, trải nghiệm về văn hóa truyền thống của người Xơ Đăng. Về trang phục truyền thống, trước đây, khi chưa biết trồng bông, dệt vải, người Xơ Đăng thường dùng các loại vỏ cây để làm trang phục. Về sau, họ đã biết trồng bông, dệt vải để phục vụ cho nhu cầu đời sống. Trang phục truyền thống phổ biến của người Xơ Đăng ở Nam Trà My gồm khố dùng cho nam; phụ nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng thêm tấm vải choàng qua người. Trang phục thường ngày của người Xơ Đăng chủ yếu màu đen, trắng, ít hoa văn. Trong những dịp lễ hội hay các hoạt động mang tính cộng đồng, người Xơ Đăng thường mặc các loại trang phục với những hoa văn đặc sắc, thể hiện sự khác biệt trong trang phục với các dân tộc khác. Trên tấm dồ (tấm vải choàng của nam), hoặc chân váy của người phụ nữ được trang trí nhiều hoa văn sặc sỡ, với những gam màu chủ đạo là đỏ, trắng, đen xen kẽ. Thiếu nữ Xơ Đăng đến tuổi lập gia đình đều rất thành thạo trong việc may mặc, ngoài ra họ còn dệt những tấm dồ, chiếc khăn cho mình trước khi về nhà chồng. Đồ trang sức của người Xơ Đăng chủ yếu là các loại vòng đồng, vòng bạc…

Biểu diễn đàn tơ rưng cầm tay

Những năm gần đây, huyện Nam Trà My đã chú trọng khôi phục, bảo tồn một số nghề truyền thống của đồng bào Xơ Đăng. Ở Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang đã bước đầu khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm và đan lát. Mặc dù sản phẩm làm ra chưa nhiều, mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tại chỗ, nhưng trong định hướng phát triển du lịch của huyện thời gian tới, cần thiết phải tạo ra những sản phẩm thủ công truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa của đồng bào… Về ẩm thực truyền thống, người Xơ Đăng thường không cầu kỳ mà mang đậm hương vị của núi rừng, như canh rau doi nấu tấm, bánh sừng trâu, cơm lam, thịt nướng, cá niêng, canh ốc nấu rau ranh, cá khô chấm muối, các loại rau rừng; thức uống có rượu cần… là những món ăn, thức uống không thể thiếu trong mỗi dịp tổ chức các hoạt động của cộng đồng, trong những lễ hội truyền thống và còn là sự lựa chọn trong bữa ăn của du khách khi đến Nam Trà My.

Tộc người Xơ Đăng ở huyện Nam Trà My sở hữu kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú, bao gồm những tri thức dân gian về tự nhiên, quản lý xã hội, y học; là các làn điệu dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống; là những tín ngưỡng, phong tục, tập quán… Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, tộc người Xơ Đăng ở Nam Trà My đã làm nên những đặc điểm văn hóa có sự gắn bó với núi rừng, dựa vào rừng để sống cho nên rừng và rừng già như một dấu ấn sâu đậm trong văn hóa của đồng bào; rừng già “như là một lẽ sống, một đạo đức, một văn hóa” [TS.Nguyễn Xuân Hồng (2018), Đặc điểm văn hóa tộc người Xơ Đăng ở Nam Trà My, chuyên đề Đề tài “Kiểm kê văn hóa dân tộc Xơ Đăng, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam”, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam thực hiện năm 2018].

Lễ cưới của người Xơ Đăng

Gắn bó với rừng, tôn thờ rừng nên người Xơ Đăng có tục cúng rừng, cùng nhiều lễ nghi, phong tục tập quán liên quan đến rừng. Đồng bào kiêng kỵ làm hại những động vật, thực vật liên quan đến tín ngưỡng dòng tộc, tổ tiên. Khi đi vào rừng, nhất  là khi đi săn, họ thường kiêng dùng những từ có nghĩa chết chóc, máu chảy… Và, họ cũng quý trọng những cây to, cây cổ thụ và xem đó như là nơi trú ngụ của thần linh. Trước đây, cá dưới suối, động vật trên rừng không phải khi nào muốn bắt thì bắt, khi nào muốn chặt đốt thì chặt đốt.

Rừng và tín ngưỡng liên quan đến rừng có nhiều biểu hiện rõ nét trong đời sống tâm linh của người Xơ Đăng sinh sống trên vùng đất này. Mỗi làng có những khu rừng thiêng, rừng đầu nguồn, rừng ma… Cách thức ứng xử của cộng đồng với các khu rừng này được quy định trong luật tục của làng. Theo quan niệm, rừng là nơi trú ngụ của thần linh, vì vậy con người không được làm tổn hại, mà phải làm lễ cúng rừng thiêng, rừng ma để mong thần linh phù hộ mùa màng tươi tốt, dân làng có cuộc sống ấm no. Với quan niệm đó, nên có rất nhiều lễ thức liên quan đến rừng được thực hiện. Người Xơ Đăng có một “nông lịch” quy định công việc/việc làm trong từng tháng của một năm khá cụ thể. Tất cả những điều đó nói lên rằng: họ rất tôn trọng rừng, xem rừng là một lẽ sống, là một phần trong cuộc đời của họ. Bởi người Xơ Đăng sinh ra từ trong rừng, lớn lên từ rừng, nhờ rừng và khi chết đi quay về lại với rừng. Rừng sáng tạo/môi trường sinh ra họ, nhưng chính họ cũng lại sáng tạo/làm đẹp thêm, bền vững hơn đối với rừng. Ai đó không tôn trọng rừng, không yêu rừng, bạc đãi và tàn phá rừng thì cũng có nghĩa không tôn trọng, không yêu, bạc đãi, tàn phá người Xơ Đăng [Nguyễn Xuân Hồng].

Việc bảo tồn, phát huy những giá trị liên quan đến tín ngưỡng truyền thống của người Xơ Đăng cần gắn với loại bỏ những hủ tục; đồng thời chú trọng lựa chọn một số tín ngưỡng để xây dựng thành các sản phẩm du lịch, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của du khách, đồng thời làm tăng tính hấp dẫn đối với du lịch Nam Trà My.

– Nghệ thuật truyền thống: Tính đa dạng, phong phú của văn hóa Xơ Đăng thể hiện rõ nét ở nghệ thuật dân gian, đặc biệt là các loại hình dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống. Trong các dịp lễ hội, người Xơ Đăng thường có đánh trống chiêng, hát đối đáp trai gái… Nhạc cụ truyền thống của người Xơ Đăng rất đa dạng và phong phú về loại hình cũng như cách thức biểu diễn, gồm cồng chiêng, các loại đàn như đàn T’ró, đàn đá, kèn môi… do các nghệ nhân của núi rừng chế tác và biểu diễn. Cùng với sự phong phú của các loại hình nhạc cụ truyền thống là những làn điệu dân ca, hát ru, hát ting ting.

Cồng chiêng là một thứ nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên. Với đồng bào Xơ Đăng cũng vậy, cồng chiêng được xem như một thứ tài sản quý, một báu vật thiêng liêng. Tiếng cồng, tiếng chiêng cũng là tiếng lòng của cộng đồng gửi đến các vị thần linh, và cũng là sự thể hiện tâm tư, tình cảm của con người với các đấng tối cao. Cồng chiêng do đó không chỉ là nhạc cụ đơn thuần, mà còn là vật dụng thiêng, việc sử dụng không được tùy tiện. Cồng chiêng chỉ được sử dụng trong những dịp lễ, hội, dịp cúng tế thần linh [Hoàng Thọ.102].

Khi biểu diễn, dàn cồng chiêng có thể có 6 chiếc, 9 chiếc hoặc 12 chiếc, tuy nhiên ít chiếc sẽ không được hay vì không đủ sự đa âm của thanh nhạc. Theo các nhà nghiên cứu, số lượng cồng chiêng ở một số xã thuộc huyện Nam Trà My có sự khác nhau. Chẳng hạn, bộ chiêng ở Trà Nam là 9 – 12 chiếc, Trà Cang có đến 12 chiếc [Vũ Hùng.]… Cách thức, thời điểm sử dụng cồng chiêng của người Xơ Đăng ở Nam Trà My cũng rất đa dạng: trong cưới xin, tang ma, trong lễ nghi cúng tế… Tuy nhiên, việc dùng hay biểu diễn cồng chiêng như hình thức trình diễn thường chỉ diễn ra trong các lễ hội lớn của làng, như lễ ăn trâu, mừng lúa mới… Lúc đó, cồng chiêng được các nghệ nhân trình diễn xung quanh biểu tượng vật thiêng, như cây Nêu với con trâu hiến tế/cột đâm trâu. Mỗi nghệ nhân chỉ sử dụng một chiếc chiêng. Họ đi thành hàng một, đi đầu thường là trống, tiếp theo là các chiêng cồng với thứ tự cái có cao độ trầm đi trước, cái có cao độ cao lần lượt theo sau. Họ đi thong thả, vừa nhún nhảy, vừa đánh chiêng, vẽ nên đường tròn và tạo nên một trường âm thanh trầm vang sinh động.

Trong thời gian qua, các đội cồng chiêng của một số xã ở huyện Nam Trà My đã có những buổi biểu diễn giới tHiệu nghệ thuật cồng chiêng nói riêng, văn hóa Xơ Đăng nói chung tại các lễ hội, sự kiện văn hóa, du lịch do huyện và tỉnh tổ chức, được du khách trong và ngoài nước đón nhận tích cực. Kể từ khi tách huyện (năm 2003), hai lần Liên hoan nghệ thuật cồng chiêng. Cùng với sự phát triển của du lịch văn hóa, loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào các dân tộc huyện Nam Trà My, trong đó có đồng bào Xơ Đăng sẽ giữ chân du khách khi đến với vùng đất này.

Từ năm 2017 đến nay, với thế mạnh về cây sâm Ngọc Linh mà không phải địa phương nào cũng có được, huyện Nam Trà My đã định kỳ tổ chức các Hội chợ sâm (từ ngày 1 – 3 hàng tháng); năm 2017, lần đầu tiên Lễ hội sâm Ngọc Linh được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh, nhân sự kiện Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI. Kết hợp với lễ hội hoặc hội chợ sâm là các hoạt động mang đậm đặc trưng văn hóa của đồng bào các dân tộc huyện Nam Trà My, như biểu diễn cồng chiêng, tham quan vùng sâm và trải nghiệm văn hóa của người trồng sâm (đồng bào Xơ Đăng), quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống và những sản phẩm du lịch độc đáo khác. Trong định hướng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, việc duy trì, tái hiện, phục dựng một số lễ hội truyền thống nhằm phục vụ phát triển du lịch cũng cần được tính tới.

Đến nay, nhiều loại hình văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Xơ Đăng nói riêng trên địa bàn huyện Nam Trà My đã được kiểm kê, bảo tồn và phát huy, như nghệ thuật dân gian (dân ca, dân vũ, dân nhạc), tri thức dân gian, nghề thủ công và các lễ hội, phong tục tập quán truyền thống…. Nhiều thôn, xã đã thành lập các đội văn nghệ truyền thống hoặc đội cồng chiêng. Một số lễ hội truyền thống được khôi phục hoặc duy trì như cúng máng nước, mừng lúa mới. Một số nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát đồ gia dụng, rèn truyền thống được khôi phục. Định kỳ ở cấp huyện tổ chức các liên hoan, hội thi như Liên hoan cồng chiêng và trang phục truyền thống, hát dân ca, dân nhạc, dân vũ, các trò chơi dân gian…; đặc biệt, từ năm 2017 đến nay, phiên chợ sâm Ngọc Linh được tổ chức hàng tháng tại trung tâm huyện, bên cạnh giới tHiệu các mặt hàng nông sản, dược liệu thế mạnh của huyện, nhất là cây sâm Ngọc Linh, còn tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, góp phần bảo tồn, quảng bá giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Đây chính là nguồn lực quan trọng cho việc phát triển du lịch văn hóa tộc người ở Nam Trà My trong thời gian tới.

                                                                                              T.V.D

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban Thường vụ Huyện ủy Nam Trà My, Hương rừng Trà Linh, Nam Trà My xuất bản, 2015.
  2. Nguyễn Phước (2018), “Địa vực cư trú của các tộc người ở miền núi Quảng Nam”, trong Tạp chí Văn hóa Quảng Nam, số tháng 5/2018.
  3. Nguyễn Xuân Hồng, Đặc điểm văn hóa tộc người Xơ Đăng ở Nam Trà My, chuyên đề trong đề tài “Kiểm kê văn hóa dân tộc Xơ Đăng, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam”, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam thực hiện năm 2018.
  4. Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Nam, “Phong tục – tập quán – lễ hội Quảng Nam”, 2004.
  5. Tôn Thất Hướng (2005), “Luật tục trong đời sống văn hóa ở miền núi Quảng Nam”, trong Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 03-2004.
  6. UBND huyện Nam Trà My (2017), Đề án Phát triển du lịch sinh thái, du lịch sâm, du lịch văn hóa cộng đồng trên địa bàn huyện Nam Trà My giai đoạn 2017-2025
  7. Vũ Hùng, “Văn nghệ dân gian người Xơ Đăng ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam”, chuyên đề trong đề tài “Kiểm kê văn hóa dân tộc Xơ Đăng, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam”, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam thực hiện năm 2018.