Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Phật viện Đồng Dương

Di tích Phật viện Đồng Dương nằm trên địa phận làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Laksmindra Lokesvara

Năm 1902, H. Parmentier tổ chức khai quật di tích Đồng Dương, ông đã tìm thấy khu kiến trúc chính của khu đền thờ cùng với nhiều tác phẩm điêu khắc quý giá. Theo khảo tả của H. Parmentier, toàn bộ khu đền thờ chính và các tháp nằm lân cận phân bố trên một trục từ Tây sang Đông, dài khoảng 1.300m. Khu đền thờ chính nằm trong một khu vực hình chữ nhật, dài 326m, rộng 155m, chung quanh có tường gạch bao bọc, từ khu đền chính có một con đường dài khoảng 760m, chạy về phía Đông đến một thung lũng hình chữ nhật. Các đền thờ chính và các tháp phụ chung quanh là loại tháp truyền thống của kiến trúc Chăm, có mặt bằng hình tứ giác, cửa ra vào ở hướng Đông, phía trước có tiền sảnh khá dài, quanh các mặt tường có trụ ốp tường được chạm những dải hoa văn cành lá cách điệu rậm rịt và xoắn xít như hình vết sâu bò. Đó là loại hoa văn đặc trưng của phong cách Đồng Dương. Phần lớn các tác phẩm điêu khắc tìm thấy ở Phật viện Đồng Dương hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Điêu khắc Champa Đà Nẵng. Những tác phẩm điêu khắc của thời kỳ này mang những yếu tố của Phật giáo Đại thừa ở phương Bắc, kết hợp với nghệ thuật Ấn Độ giáo, cùng với sự sáng tạo độc đáo của những nghệ nhân bản địa, đã hình thành nên phong cách Đồng Dương nổi tiếng trong nghệ thuật Champa từ giữa đến cuối thế kỷ IX. Đáng tiếc là khu di tích quan trọng vào bậc nhất của kiến trúc Phật giáo Champa đã bị tàn phá bởi thiên nhiên và chiến tranh. Hiện nay trong khu di tích này chỉ còn một mảng tường tháp cổng (Gopura) mà nhân dân địa phương thường gọi là tháp Sáng cùng với nền móng các công trình và một số đồ trang trí kiến trúc.

Năm 1978, nhân dân địa phương đã đào được một pho tượng Bodhisattva (Bồ Tát) bằng đồng thau, cao 114cm, ở gần khu đền thờ chính. Nhân vật trong tư thế đứng thẳng; tóc được búi lại thành hình chóp (jata) trên chóp chạm một tượng Phật A di đà; gương mặt nữ thần nghiêm nghị, có vẻ hơi thô, cung lông mày giao nhau, mắt mở to nhìn thẳng, cánh mũi rộng, môi dày, giữa trán có một urna hình thoi. Thân trên để trần với bộ ngực căng tròn; thân dưới quấn một sarong dài đến mắt cá, sarong xếp nhiều nếp lượn cong tạo vẻ mềm mại. Hai tay nữ thần cầm hoa sen hướng ra phía trước. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là pho tượng Bồ tát Laksmindra Lokesvara, được đặt trên bệ thờ của đền thờ chính. Theo đánh giá của J. Boisselier, pho tượng này không chỉ là tượng đồng lớn nhất của nghệ thuật Champa, mà còn là một trong những tượng đồng quan trọng bậc nhất của vùng Đông Nam Á.

Nhiều người cho rằng di tích Đồng Dương là kinh đô Indrapura, tuy nhiên, vào tháng 9.1996, Viện Khảo cổ học Việt Nam, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Bảo tàng Quảng Nam – Đà Nẵng đã phối hợp khảo sát tại làng Đồng Dương, chúng tôi nhận thấy, ngoài những kiến trúc của khu Phật viện, dấu vết cư trú của con người thời kỳ vương quốc Champa tại làng Đồng Dương không nhiều. Khu vực làng Đồng Dương khí hậu rất khắc nghiệt, đất đai khô cằn, lớp đất canh tác chỉ dày khoảng 40-50 cm, bên dưới là tầng đá ong, đây không phải là nơi thuận tiện để xây dựng kinh đô. Có thể nói Đồng Dương chỉ thuần túy là khu đền thờ Phật giáo của vương quốc Champa, còn kinh thành Indrapura phải là một khu vực rộng lớn hơn, trong đó có thể bao gồm khu Phật viện Đồng Dương.

Với giá trị tiêu biểu của Phật viện Đồng Dương, ngày 22/12/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2499/QĐ-TTg xếp hạng Phật viện Đồng Dương là di tích Quốc gia đặc biệt.

Để bảo tồn và phát huy giá trị của một di tích Quốc gia đặc biệt, cần có cơ chế tài chính và giải pháp kỹ thuật phù hợp cho việc tu bổ, tôn tạo Phật viện Đồng Dương. Bảo tồn các phế tích Chăm là công việc phức tạp, đòi hỏi phải kết hợp các kỹ thuật truyền thống và kỹ thuật hiện đại, không thể cứng nhắc trong việc lựa chọn giải pháp bảo tồn và tu bổ. Trong thời gian từ 1981 đến 1990, với sự trợ giúp về kỹ thuật của Ba Lan, phần lớn các tháp Chăm ở miền Trung Việt Nam được Trung tâm Thiết kế & Tu bổ Di tích Trung ương và Sở Văn hóa – Thông tin các tỉnh thực hiện trùng tu theo trường phái khảo cổ học. Việc trùng tu các kiến trúc Chăm khá phức tạp, một số người cố tìm tòi chất kết dính của người Chăm đã dùng xưa kia để xây tháp, kỹ thuật xây tháp vẫn tiếp tục được tìm hiểu, đến nay tất cả vẫn chỉ là những giả thuyết, tuy nhiên dẫu chúng ta có tìm ra cách người Chăm cổ xây tháp đi nữa, thì vẫn phải áp dụng một số giải pháp kỹ thuật hiện đại để liên kết các khối xây cũ và khối xây mới…

Trong những năm qua các tháp Chăm được gia cố bằng các giải pháp kỹ thuật hiện đại như: xây bổ khuyết để chịu lực cho các mảng tường bị đổ, khoan neo các vị trí nứt lớn trên tường tháp bằng các chốt thép, gia cố bằng đai bê tông cốt thép được đặt ngầm trong thân tháp, nhằm tăng khả năng chịu lực cho các vị trí bị sụt lở, lún, nứt. Tái định vị, sắp xếp về vị trí ban đầu các thành phần, cấu kiện bị xê dịch hoặc rời ra khỏi tháp…. Việc phục hồi từng phần cũng được thực hiện, song rất hạn chế và rất thận trọng để tránh làm sai lệch các yếu tố gốc. Nhờ những nỗ lực của những người làm công tác trùng tu di tích trong những năm qua mà các tháp Chăm ở Mỹ Sơn, Chiên Đàn, Tháp Đôi, Dương Long… vẫn tiếp tục đứng vững.

Hiện nay, một vài cơ quan chức năng của Bộ VH,TT&DL, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu để làm ra những viên gạch tương tự gạch Chăm để dùng cho việc tu bổ tháp, tuy nhiên kết quả thực tế cho thấy  một số tháp Chăm tại các di tích Hòa Lai, Mỹ Sơn, Khương Mỹ… được tu bổ bằng loại gạch này đang bị rêu mốc, gạch cổ trên tháp tiếp tục bị mủn nát… Xem xét lại phương pháp gia cố, tu bổ các mảng tường tháp Chăm mà các nhà trùng tu di tích đã và đang làm hiện nay, có thể thấy một trong những nguyên nhân làm cho gạch dùng trong trùng tu tháp dễ bị phong hóa, rêu mốc, dễ bị xâm thực, đó là vì chúng được mài toàn thân để tạo ra mặt tiếp xúc thật phẳng. Khi mài đi lớp áo ngoài của viên gạch, vô tình chúng ta đã bóc đi lớp da cứng, chính lớp da này giúp cho viên gạch hạn chế được sự tác động của nắng mưa và các tác nhân bất lợi khác. Chính vì thế khi tu bổ bất kỳ di tích kiến trúc Chăm nào, kể cả phế tích Phật viện Đồng Dương, cũng không nên mài bỏ lớp da gạch.

Tại Đồng Dương, theo chúng tôi, việc quan trọng nhất là cần bảo tồn các yếu tố gốc còn lại của di tích. Có kế hoạch chống đỡ cấp thiết cho tháp Sáng. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm thấy toàn bộ dấu tích của Phật viện, gần như tất cả đã đổ nát nên việc xác định các vị trí càng khó khăn, do đó cần thiết phải khảo sát và đào thám sát trên diện rộng, tìm dấu tích nền móng các công trình để cắm mốc các vị trí theo bản vẽ của H. Parmentier, từ đó lập dự án khai quật phát lộ toàn bộ khu phế tích cùng lúc với việc gia cố tu bổ từng phần các dấu vết được phát lộ. Ngay sau khi đào phát lộ các nền móng kiến trúc, cần tái định vị những thành phần kiến trúc còn sót lại của công trình, dùng gạch mới mô phỏng gạch Chăm để xây bổ khuyết, gia cố các mảng tường còn lại.

Với mảng tường tháp cổng duy nhất còn tồn tại, nguy cơ sụp đổ rất lớn bởi sự liên kết giữa các viên gạch không còn như xưa, dễ bị tác động của mưa, bão làm sạt lở. Để duy trì sự tồn tại của công trình này, chúng ta cần xây phục hồi ba mảng tường còn lại bằng gạch mới theo nguyên tắc đối xứng, các mảng tường mới xây không nên chạm trổ hoa văn, vẫn giữ lớp da của các viên gạch xây để bảo vệ gạch ít bị tác động bởi nắng mưa…. Có thể gia cố thêm một kiềng bê tông đặt chìm trong thân tường tháp để tăng sự liên kết giữa các mảng tường.

Di tích cũng cần được tôn tạo cảnh quan. Trong khuôn viên của phế tích, các lối đi nên lát gạch lớn hoặc đá chẻ, không nên xây bồn hoa, chỉ trồng một vài loại cây phù hợp với cảnh quan của tháp Chăm như cau, sứ trắng,…. Khu vực II của di tích có thể trồng vài loại cây có bóng mát, tán thấp như bằng lăng, hoàng hậu … Nếu cần thiết phải làm hàng rào để bảo vệ khu vực di tích thì chỉ làm “hàng rào xanh”, có thể là hàng rào bằng xương rồng hoặc chè tàu….

Để khách tham quan có thể hình dung được quy mô của Phật viện Đồng Dương xưa kia, cần xây nhà trưng bày tại khu vực Đồng Dương. Trong nội dung trưng bày có sa bàn thể hiện di tích theo bản vẽ của H. Parmentier. Hiện vật sử dụng trưng bày bên trong gồm những di vật tìm thấy sau khi khai quật, thu hồi một số hiện vật còn rải rác trong khu vực phế tích, đồng thời làm một số phiên bản các tác phẩm điêu khắc quan trọng của Đồng Dương đang trưng bày tại các bảo tàng trong nước, đặc biệt là hai bệ thờ lớn và tượng đồng Bồ tát Laksmindra Lokesvara đang trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, có thể làm phong phú thêm nội dung trưng bày bằng các hình ảnh tư liệu về Phật viện Đồng Dương qua các thời kỳ….

Về tài chính, bên cạnh nguồn kinh phí của tỉnh Quảng Nam, cần có sự đầu tư thỏa đáng của Chính phủ, đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Tại Đồng Dương, song song với việc thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo, cần thành lập ban quản lý di tích để bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Chú trọng việc đào tạo cán bộ tại địa phương đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ này.

Lựa chọn một giải pháp thích hợp để bảo tồn di tích Phật viện Đồng Dương không hề đơn giản, nếu chỉ giữ nguyên trạng phế tích sẽ làm cho di tích trở nên đơn điệu nhàm chán, nhưng cũng không thể tùy tiện xây phục hồi các phế tích khi chưa có đủ các chứng cứ khoa học, cũng không thể làm mới di tích theo kiểu mô phỏng, suy đoán…. Bảo tồn, tu bổ tôn tạo đúng hướng sẽ góp phần hiệu quả vào việc phát huy giá trị của di tích Phật viện Đồng Dương.

H.X.T